Giải phóng sức sáng tạo văn hóa thành động lực tăng trưởng mới

Cập nhật: 22 phút trước

VOV.VN - Nghị quyết 80 xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh, động lực và trụ cột kinh tế quan trọng. Theo TS. Đặng Xuân Phương, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần tạo đột phá thể chế để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới.

Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, dấu ấn bản sắc mà là nguồn lực nội sinh, động lực và trụ cột kinh tế quan trọng để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Đó là sự đổi mới mạnh mẽ về quan điểm, sự chuyển dịch lớn trong tư duy phát triển văn hóa, coi văn hóa là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm thị trường và sức mạnh mềm quốc gia. Để thể chế hóa kịp thời Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xây dựngcần xác lập những cơ chế nào đủ hiệu quả để góp phần hiện thực hóa được yêu cầu, đòi hỏi này?

Phóng viên Đài TNVN đã phỏng vấn Tiến sĩ Đặng Xuân Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội về nội dung này.

PV: Thưa ông, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị lần đầu tiên xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần hay dấu ấn bản sắc mà còn là một nguồn lực nội sinh, động lực và trụ cột kinh tế quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Vậy dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa cần thể chế hóa tinh thần này như thế nào?

TS. Đặng Xuân Phương: Có thể nói rằng, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác lập những mục tiêu rất to lớn.Theo đó, công nghiệp văn hóa phải đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và vươn lên 9% GDP vào năm 2045.

Theo tôi, đây không đơn thuần là bài toán định lượng chỉ tiêu phát triển kinh tế mà còn là tầm nhìn chiến lược về đổi mới phương thức phát triển quốc gia. Tuy nhiên, từ tầm nhìn chiến lược đến khả năng đóng góp thực tế của văn hóa cho nền kinh tế của đất nước thấy rằng vẫn còn không ít khoảng trống cần được khắc phục kịp thời, trong đó có khoảng trống về thể chế cho phát triển công nghiệp văn hóa.

Muốn khơi thông và giải phóng sức sản xuất từ nguồn vốn văn hóa bằng đòn bẩy thể chế, tôi cho rằng các chính sách được đưa ra trong dự án Luật phát triển công nghiệp văn hóa trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI cần phải có một cách tiếp cận đúng đắn và mang tính đột phá, phải phù hợp với quy luật tất yếu, cho phép gắn kết giữa các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phải bảo đảm thông suốt từ vai trò định hướng kiến tạo của Đảng, vai trò cung cấp khuôn khổ pháp lý và các dịch vụ công thiết yếu mang tính bệ đỡ của nhà nước cho đến các chủ thể trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ văn hóa vốn là một cuộc cạnh tranh rất khốc liệt đi cùng với quá trình công nghiệp hóa, toàn cầu hóa. Do đó, thể chế cho phát triển công nghiệp văn hóa cũng phải hướng tới phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế để biến sáng tạo văn hóa thành nhân tố kích thích và bùng nổ sức sản xuất mới.

PV: Mới đây, phát biểu chỉ đạo Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thẳng thắn chỉ rõ: Chúng ta vẫn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng của quốc gia. Vậy theo ông, dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa cần nhận diện và giải quyết những điểm nghẽn này như thế nào?

TS. Đặng Xuân Phương: Chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã chỉ rõ hiện có những khoảng trống lớn đang cản trở tiến trình để giải phóng sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới. Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đã xác định làm thế nào đó để các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, xã hội môi trường tới quốc phòng an ninh, đối ngoại và thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Muốn như vậy, luật phát triển công nghiệp văn hóa cần phải có một cách tiếp cận đúng đắn và phù hợp. Đó là phải thoát khỏi tư duy định vị công nghiệp văn hóa giống như lĩnh vực văn hóa nói chung hiện nay. Bên cạnh đó, rất cần giải phóng các nguồn lực về cơ sở vật chất, về nguồn nhân lực tiềm năng huy động vào phát triển công nghiệp văn hóa. Muốn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào sự nghiệp này, tôi cho rằng ấy phải có chế định liên quan đến tài sản sáng tạo văn hóa. Làm thế nào đó để tài sản sáng tạo văn hóa không phải chỉ là đơn thuần là nội dung sáng tạo mà còn là sự kết tinh trên cơ sở phối hợp chặt chẽ giữa các thành phần trong toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa ngay từ đầu. Khi mà tài sản sáng tạo văn hóa này được ứng dụng trong toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, nó làm gia tăng các giá trị của các hàng hóa sản phẩm của chúng ta và có thể hướng tới xuất khẩu ra nước ngoài.

Một vấn đề nữa tôi cho rằng cũng rất quan trọng là cần có những giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc về mặt thể chế liên quan đến các pháp luật chuyên ngành khác. Đặc biệt là những luật điều chỉnh những vấn đề về hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa như Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật phát triển đô thị và nhiều đạo luật có liên quan khác, hay là những quy định về thúc đẩy hợp tác công tư giữa các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong văn hóa nghệ thuật của nhà nước với các đơn vị tư nhân.

PV: Vâng, nếu sức sáng tạo văn hóa là một nguồn lực sản xuất mới thì theo ông, dự thảo luật cần thiết kế như thế nào để nguồn lực ấy có thể được giải phóng, đầu tư và tạo ra giá trị kinh tế?

TS. Đặng Xuân Phương: Chúng ta phải coi rằng tài sản sáng tạo văn hóa phải là một quá trình kết tinh lao động hợp tác, phối hợp chặt chẽ, nghiêm túc giữa nhiều bên.Trong đó có những người sáng tác nội dung cho đến các nhà đầu tư tiềm năng hay các nhà sản xuất, các chuyên gia về kinh tế giúp hỗ trợ cho việc lập dự án, chuyên gia tài chính giúp cho vấn đề thẩm định giá, rồi quản trị rủi ro, rồi các chuyên gia pháp lý, các chuyên gia tư vấn về chuyên môn khác cũng như các tổ chức xã hội nghề nghiệp có liên quan đến nội dung cần tham vấn chuyên môn… đều phải hợp tác ngay từ đầu.

Để đưa ra một quyết định đầu tư cho một sản phẩm công nghiệp văn hóa phải được xem xét đầy đủ các yếu tố như vậy với sự cộng tác của nhiều bên để có thể thiết kế được một bộ hồ sơ hoàn chỉnh chứng minh tiềm năng, giá trị khai thác của tài sản sáng tạo văn hóa theo một chuỗi. Đó là từ sáng tạo đến sản xuất cho đến phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư. Điều đó cũng cho thấy toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa nó phải vào cuộc ngay từ đầu. Nó đặt ra yêu cầu luật phải thiết kế được toàn bộ sự vận hành của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gắn với quá trình đầu tư phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa.

PV: Vâng, xin trân trọng cảm ơn ông!

Từ khóa: công nghiệp văn hóa, công nghiệp văn hóa, sức sáng tạo văn hóa, Nghị quyết 80, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, động lực tăng trưởng, tài sản sáng tạo văn hóa

Thể loại: Nội chính

Tác giả: pv/vov1

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập