4 định hướng chiến lược cho chặng đường phát triển mới của Việt Nam

Cập nhật: 40 phút trước

VOV.VN - Trong kỷ nguyên phát triển mới, nâng cao năng lực quản trị quốc gia là điều kiện quan trọng để Việt Nam khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ và hiện thực hóa mục tiêu phát triển đến năm 2045.

Hoàn thiện thể chế,phát huy các nguồn lực cho phát triển

Phát biểu tạidiễn đàn quốc tế thường niên về quản trị công năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội,GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng,Việt Nam đang hướng tớimô hình phát triển dựa ngày càng nhiều vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời nâng cao khả năng tự chủ, thích ứng và vị thế của đất nước trong nền kinh tế thế giới.

Hướng tới năm 2045, Việt Nam cầnchủ động xây dựng những nền tảng của một nước phát triển: Năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, thể chế hiện đại, doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế, hạ tầng số và dữ liệu, khả năng bảo đảm các nguồn lực chiến lược và thích ứng với những biến động bên ngoài.Điều đó đặt năng lực quản trị quốc gia vào vị trí đặc biệt quan trọng.

Từ những yêu cầu đó, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh 4 định hướng chiến lược đối với Việt Nam.

Thứ nhất, nâng cao năng lực của Nhà nước trong tổ chức và kiến tạo phát triển

Khi tăng trưởng dựa ngày càng nhiều vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, nhà nước cần có năng lực xác định những ưu tiên có ý nghĩa chiến lược, tập trung nguồn lực cho những nền tảng dài hạn và tạo môi trường để doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu, giáo dục và xã hội phát huy sức sáng tạo.

"Nguồn lực của một quốc gia chỉ thực sự trở thành sức mạnh phát triển khi được tổ chức và kết hợp có hiệu quả. Vốn đầu tư cần gắn với công nghệ và nguồn nhân lực; nghiên cứu cần gặp được doanh nghiệp có khả năng hấp thụ và thương mại hóa; hạ tầng số và dữ liệu cần phục vụ sản xuất, quản trị và đổi mới sáng tạo; hội nhập cần giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực và tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn của chuỗi giá trị",GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng phân tích.

Thứ hai, xây dựng thể chếchất lượng cao, đưa thể chế trở thành một lợi thế phát triển của Việt Nam

GS.TS. Nguyễn Xuân Thắngcho rằng, gần40 năm đổi mới cho thấy, thể chế có thể mở ra những không gian phát triển rất lớn khi tháo gỡ được các ràng buộc, mở rộng quyền chủ động và khơi thông nguồn lực xã hội. Trong giai đoạn mới, thể chế còn phải đi trước một bước để tạo điều kiện cho những động lực phát triển mới hình thành và phát triển.

Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, công nghệ xanh, kinh tế số và các mô hình kinh doanh mới đang phát triển nhanh hơn chu kỳ chính sách truyền thống. Thể chế vì thế cầnbảo đảm tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo,đủ linh hoạt để thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh trước những vấn đề mới.

GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng nhận xét: "Chất lượng thể chế cuối cùng phải được kiểm chứng bằng thực thi. Chủ trương phải đi được vào chính sách; chính sách phải có nguồn lực và trách nhiệm thực hiện; những vướng mắc phát sinh phải được nhận biết và xử lý kịp thời. Rút ngắn khoảng cách giữa quyết sách và kết quả phải trở thành một yêu cầu quan trọng của cải cách thể chế trong giai đoạn mới".

Thứ ba, nâng cao năng lực chiến lược, khả năng học hỏi và tự chủ của quốc gia

Theo GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, mục tiêu năm 2045 cần trở thành một điểm quy chiếu cho những lựa chọn của hiện tại. Câu hỏi quan trọng không chỉ là Việt Nam muốn đạt tới trình độ phát triển nào, mà còn là đến thời điểm đó đất nước cần làm chủ những công nghệ nào, cần nguồn nhân lực ở trình độ nào, cần những doanh nghiệp có năng lực ra sao, cần hệ thống hạ tầng và năng lực quản trị như thế nào. Từ đó có thể xác định những nền tảng phải được chuẩn bị ngay trong giai đoạn hiện nay.

Thứ tư, phát triển con người và năng lực xã hội thành nền tảng lâu dài của năng lực quốc gia

Một nền kinh tế dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo đòi hỏi một bước phát triển tương ứng về con người. Giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, thu hút và sử dụng nhân tài cần gắn chặt hơn với những năng lực mà Việt Nam cần cho mô hình phát triển mới.

Đối với khu vực công, yêu cầu không dừng ở kiến thức chuyên môn. Cán bộ, công chức, viên chức cần nâng cao năng lực phân tích và tham mưu chính sách, sử dụng dữ liệu và công nghệ, phối hợp giữa các lĩnh vực, tổ chức thực hiện và xử lý những vấn đề ngày càng phức tạp.

Năng lực quốc gia được hình thành trong quan hệ giữa nhà nước, doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu và giáo dục, cộng đồng và người dân. Nhà nước có năng lực phải có khả năng khơi dậy, kết nối và tạo điều kiện để những năng lực đang phân bố trong toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình phát triển.

Điều đó cũng đặt ra yêu cầu về tính bao trùm.Chính sách phát triển cần giúp người dân nâng cao năng lực thích ứng, tiếp cận những cơ hội mới và tham gia ngày càng nhiều hơn vào những hoạt động tạo ra giá trị cao.

"Một nền quản trị có tầm nhìn phải giải quyết tốt những yêu cầu của hôm nay và chuẩn bị đủ năng lực cho đất nước đi tới tương lai. Đó là yêu cầu đặt ra đối với đổi mới quản trị quốc gia của Việt Nam trên chặng đường hướng tới năm 2045",GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng kết luận.

Chuyển năng lực dự báo thành năng lực hành động

Phát biểu tại diễn đàn, PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, một chính phủ sẵn sàng trước tương lai không phải là một chính phủ biết trước mọi điều, mà là một chính phủ có tầm nhìn xa, chuẩn bị sớm, thích ứng nhanh và không ngừng tự đổi mới. Đó cũng là một chính phủ không chỉ ứng phó với những gì sẽ đến, mà còn chủ động kiến tạo những khả năng phát triển mới, cùng với người dân định hình một tương lai tốt đẹp hơn.

Muốn vậy, cần phát triển tư duy quản trị dự báo, chủ động nhận diện những thay đổi để chuẩn bị từ sớm, từ xa. Phải biết lắng nghe những “tín hiệu yếu” -những dấu hiệu còn mờ nhạt nhưng có thể báo trước những chuyển biến lớn; thường xuyên xem xét lại các giả định quen thuộc; xây dựng nhiều kịch bản và kiểm nghiệm sức chống chịu của chính sách trong những tình huống khác nhau.

"Chúng ta cần kiên định với các mục tiêu dài hạn, nhưng phải linh hoạt trong phương án hành động; không đặt tương lai của đất nước vào một kịch bản duy nhất, dù kịch bản ấy có vẻ hợp lý đến đâu.

Tinh thần chủ động ấy còn thể hiện ở sự chuẩn bị trước nhữngbiến cố vượt ngoài dự liệu thông thường nhưng có tác động rất lớn. Không thể lường trước mọi biến cố, nhưng có thể giảm thiểu mức độ dễ bị tổn thương, dự phòng nguồn lực và duy trì thông suốt các dịch vụ thiết yếu khi biến động xảy ra", PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.

Theo PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng, không thể để một thay đổi đã được dự báo trở thành điều bất ngờ chỉ vì chúng ta chậm chuẩn bị và chậm hành động.Điều quan trọng là phải chuyển năng lực dự báo thành năng lực hành động. Mỗi kịch bản cần gắn với phương thức ứng phó cụ thể, xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực và các dấu hiệu cho biết khi nào cần điều chỉnh chính sách.

Muốn làm được điều đócần kết nối năng lực phân tích của các cơ quan công quyền với tri thức và kinh nghiệm của giới khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng. Đồng thời, cần định kỳ diễn tập các kịch bản, đánh giá mức độ sẵn sàng và cập nhật chính sách.Dự báo phải trở thành một bộ phận thiết yếu của quá trình ra quyết định và điều hành, chứ không chỉ dừng lại ở những bản báo cáo.

Từ khóa: quản trị , VOV, quản trị quốc gia, định hướng chiến lược, quản trị công

Thể loại: Nội chính

Tác giả: nguyễn vân/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập