Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: Kinh tế biển phải gắn với bảo vệ chủ quyền
Cập nhật: 45 phút trước
Kết nối địa phương tạo động lực mới cho hợp tác Việt Nam - Lào
Việt Nam hướng tới quốc gia biển mạnh: Kinh tế biển phải gắn với bảo vệ chủ quyền
VOV.VN - Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, muốn biến biển thành động lực phát triển và "lá chắn" bảo vệ chủ quyền, Việt Nam phải làm chủ công nghệ, hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức tổ chức thực hiện.
Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thống nhất định hướng xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, xác định biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế biển hiện đại phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân và giữ vững chủ quyền quốc gia.
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần tạo bước đột phá về tự chủ khoa học, công nghệ, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn trong thể chế và khâu tổ chức thực hiện, đưa các chủ trương, nghị quyết vào cuộc sống một cách hiệu quả.
PV: Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt vấn đề phải chuyển từ "phản ứng" sang "phòng ngừa từ sớm, từ xa". Nếu áp dụng vào kinh tế biển, Việt Nam cần chuyển từ tư duy "khai thác biển" sang "kiến tạo sức mạnh biển" như thế nào để biển vừa là động lực tăng trưởng, vừa là lá chắn bảo vệ chủ quyền quốc gia?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Khái niệm "phòng ngừa từ sớm, từ xa" thực chất là sản phẩm của khoa học dự báo và là nguyên tắc có ý nghĩa đối với mọi lĩnh vực. Việc vận dụng tư duy "phòng ngừa từ sớm, từ xa" vào phát triển và quản trị biển nhằm nâng cao hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả việc khai thác, sử dụng không gian biển trong bối cảnh mới. Phát triển kinh tế biển không chỉ hướng tới xanh, hiệu quả, bền vững mà còn phải gắn chặt với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh biển đảo, đặc biệt khi Việt Nam có nguồn tài nguyên biển dồi dào với đường bờ biển trải dài hơn 3.260 km.
Không gian biển có đặc thù là không gian ba chiều với các mối tương tác rất phức tạp giữa biển với lục địa thông qua hệ thống lưu vực sông, giữa vùng ven biển với vùng khơi, giữa khí quyển với các khối nước đại dương. Những tương tác này tạo ra nhiều biến động về khí hậu, tài nguyên và hệ sinh thái, thậm chí hình thành những "dị thường mới" không còn hoàn toàn tuân theo các quy luật cũ.
Điểm mới được Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa XIV nhấn mạnh là chuyển từ tư duy phát triển thuần túy sang tư duy phát triển gắn với quản trị tổng hợp không gian biển quốc gia. Đây là bước chuyển rất quan trọng, bởi biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà là một không gian phát triển liên ngành.
Quản trị theo không gian biển sẽ giúp thống nhất các mục tiêu phát triển, bởi biển là hệ tài nguyên đa dụng, đa ngành, tạo nền tảng cho nhiều lĩnh vực kinh tế. Nếu quản trị ngay từ khâu quy hoạch sẽ tạo nền tảng cho phát triển lâu dài. Đó cũng là lý do Luật Quy hoạch năm 2017 đưa quy hoạch không gian biển vào hệ thống quy hoạch quốc gia.
Theo đó, cần xây dựng và triển khai hiệu quả quy hoạch không gian biển để hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và các mục tiêu xã hội, qua đó tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển bền vững.
PV: Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt trên biển, liệu có thể xem mỗi dự án kinh tế biển không chỉ là một dự án đầu tư mà còn là một "thiết chế bảo vệ chủ quyền"? Theo ông, tiêu chí nào cần được bổ sung khi thẩm định các dự án này?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Trước đây, chúng ta xem ổn định là nền tảng để phát triển. Tuy nhiên, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đưa ra cách tiếp cận mới: lấy phát triển để tạo dựng và duy trì sự ổn định. Điều này không có nghĩa là tách rời hai yếu tố, mà phải nhìn nhận phát triển và ổn định là hai mặt thống nhất, gắn bó và tác động qua lại lẫn nhau.
Đối với kinh tế biển, phát triển không chỉ nhằm tạo ra tăng trưởng mà còn là giải pháp duy trì sự ổn định lâu dài trên biển. Trong bối cảnh Biển Đông vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp và khó lường, mỗi dự án kinh tế không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần củng cố môi trường hòa bình, tăng cường năng lực bảo vệ chủ quyền dân sự trên biển.
Các dự án đầu tư trên biển còn tạo ra lực lượng hiện diện dân sự thường xuyên trên những vùng biển mà Việt Nam thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán. Chính sự hiện diện này, cùng với sức mạnh kinh tế, sẽ tạo thêm thế và lực cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước.
Phát triển kinh tế biển phải gắn với quốc phòng thông qua các dự án phòng thủ dân sự, xây dựng khu vực phòng thủ và các mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng trên biển. Tùy từng khu vực biển, đảo, ven biển có thể hình thành các mô hình phát triển cụ thể, như: đặc khu kinh tế biển; đô thị biển, đô thị đảo,… để từng bước đưa người dân vươn ra xa hơn, xuống sâu hơn thay vì chỉ tập trung ở vùng ven biển và các đô thị ven biển.
Khi đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội trên biển được phát triển đầy đủ, người dân sẽ có điều kiện bám biển, bám đảo lâu dài. Chỉ khi lực lượng người dân hiện diện thường xuyên trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thì hiệu quả thực thi chủ quyền mới được nâng cao. Đồng thời, đó cũng là tiền đề hình thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân trên biển.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khoảng cách giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng thu hẹp. Vì vậy, sự hiện diện của các hoạt động kinh tế và lực lượng lao động trên biển không chỉ tạo động lực phát triển mà còn góp phần ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống, hiện thực hóa nguyên lý phòng ngừa "từ sớm, từ xa".
PV: Trung ương nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Theo ông, trong kinh tế biển, "tự chủ" nên được hiểu như thế nào?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Biển có những đặc thù rất khác đất liền, nhất là không gian dưới đáy biển với điều kiện khắc nghiệt và nhiều thách thức trong quản lý. Dù Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) đã quy định khá đầy đủ về quyền tự do hàng hải và hàng không, nhưng các hoạt động trong không gian ngầm dưới đáy biển vẫn còn nhiều khoảng trống pháp lý. Muốn làm chủ không gian biển sâu, điều kiện tiên quyết là phải làm chủ công nghệ. Cùng với thể chế, công nghệ chính là "đôi chân" để Việt Nam tiến ra biển lớn.
Về mặt thể chế, chúng ta phải hoàn thiện các cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp, ngư dân và các lực lượng kinh tế khác vươn ra biển, đồng thời có cơ chế hỗ trợ hiệu quả khi họ gặp rủi ro (thiên tai, nhân tai).
Tự chủ chiến lược cũng đòi hỏi đổi mới tư duy quy hoạch và triết lý phát triển, chuyển mạnh từ khai thác ven bờ sang phát triển kinh tế biển xa, biển sâu. Các vùng ven bờ đang chịu sức ép lớn từ biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người, khiến tài nguyên ngày càng suy giảm. Muốn khai thác những nguồn tài nguyên có giá trị hơn, chúng ta buộc phải vươn ra xa hơn, xuống sâu hơn và điều đó không thể thực hiện nếu thiếu nền tảng khoa học, công nghệ.
Tuy nhiên, dù làm chủ công nghệ hay hoàn thiện thể chế, con người vẫn là yếu tố quyết định. Nguồn nhân lực biển không chỉ cần trình độ chuyên môn, bản lĩnh “nghề biển” và khả năng thích ứng với môi trường biển khắc nghiệt, mà còn phải am hiểu pháp luật quốc tế, nhất là các quy định về các quyền và lợi ích biển và đại dương của Việt Nam khi hoạt động ngoài phạm vi 12 hải lý. Đây là lực lượng vừa giỏi chuyên môn, vừa có tri thức pháp lý và năng lực hội nhập để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới.
PV: Ông vừa nhấn mạnh muốn tự chủ kinh tế thì phải làm chủ công nghệ. Điều đó có phải cũng là lý do Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển kinh tế biển xa, biển sâu?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Đúng vậy. Phát triển kinh tế biển xa, biển sâu không chỉ là một lựa chọn màđang trở thành yêu cầu tất yếu. Các vùng ven bờ hiện nay không chỉ chịu tác động từ đất liền mà còn là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người, khiến tài nguyên ngày càng suy giảm và suy thoái. Nếu muốn khai thác những nguồn tài nguyên có giá trị hàng hóa hơn, chúng ta buộc phải vươn ra xa hơn và xuống sâu hơn.
Tuy nhiên, biển xa và biển sâu là không gian hoàn toàn khác so với vùng ven bờ. Đây là môi trường có mức độ rủi ro cao, đòi hỏi năng lực tổ chức, công nghệ và quản trị hiện đại. Vì vậy, nếu không làm chủ công nghệ thì chúng ta rất khó hiện thực hóa mục tiêu phát triển ở những không gian này.
Cùng với đó, chúng ta cũng phải thay đổi phương thức phát triển. Không thể tiếp tục vươn ra biển theo mô hình nhỏ lẻ, manh mún hay dựa vào những liên kết tự phát. Thay vào đó, cần tổ chức các lực lượng kinh tế biển theo quy mô lớn, có sự liên kết giữa doanh nghiệp, ngư dân, các trung tâm dịch vụ hậu cần và lực lượng thực thi pháp luật trên biển, hình thành hệ sinh thái phát triển và những liên kết chuỗi giá trị biển hiện đại.
Nói cách khác, phát triển kinh tế biển xa, biển sâu không chỉ là mở rộng phạm vi khai thác mà còn là bước chuyển về tư duy phát triển. Đó là chuyển từ khai thác đơn lẻ sang quản trị tổng hợp, từ phát triển ven bờ sang làm chủ không gian biển rộng lớn hơn bằng công nghệ, thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao. Chỉ với cách tiếp cận đó, chúng ta mới có thể hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh, đồng thời tạo dựng thế và lực mới để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh hiện nay.
PV: Theo ông, đâu là "điểm nghẽn tư duy" lớn nhất đang cản trở Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở chủ trương mà ở khâu tổ chức thực hiện. Các nghị quyết đều đúng, trúng và phù hợp với bối cảnh, nhưng quá trình triển khai vẫn thiếu sự liên kết, đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực, cũng như thiếu các giải pháp khả thi để hiện thực hóa nhiệm vụ của nghị quyết.
Điểm mới của lần này là cùng với nghị quyết, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Chương trình hành động, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan Đảng, Quốc hội và Chính phủ để tiếp tục chỉ đạo bằng Kế hoạch hành động đối với các bộ, ngành, địa phương, cụ thể hóa trong quá trình triển khai.
Đặc biệt, mọi nhiệm vụ đều phải thực hiện theo tinh thần "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ tiến độ và rõ địa chỉ thực hiện. Các kết quả phải được lượng hóa, có thể kiểm chứng và gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Đây là bước đổi mới quan trọng, thể hiện quyết tâm đưa nghị quyết đi vào cuộc sống bằng những kết quả cụ thể, thay vì chỉ dừng ở tổng kết cuối nhiệm kỳ.
PV: Xin cảm ơn ông!
Từ khóa: quốc gia biển mạnh, phát triển,tư duy,quốc gia,kinh tế,bắt đầu,động lực,hội nghị,việt nam,chủ quyền
Thể loại: Nội chính
Tác giả: diệp thảo/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN