Thu hút FDI: Doanh nghiệp Việt cần được “làm mạnh” nội lực
Cập nhật: 20 phút trước
VOV.VN - Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã khẳng định FDI là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, động lực này không thể đứng độc lập mà cần cùng với các động lực khác trở thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam và tạo ra những giá trị gia tăng bền vững...
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 (bao gồm vốn cấp mới, vốn điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần) đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện có khoảng cách khá lớn đó là: trong khi tổng vốn đăng ký đạt 40,63 tỷ USD thì vốn thực hiện chỉ đạt 17,25 tỷ USD, (tăng 12% so với cùng kỳ năm trước). Điều này phần nào phản ánh độ trễ từ quyết định đầu tư đến việc triển khai các dự án, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng hấp thụ dòng vốn, rút ngắn quá trình từ đăng ký đầu tư đến khi vào hoạt động.
Lý giải về khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, độ trễ thường phát sinh ở các dự án quy mô lớn, sử dụng nhiều đất, có yêu cầu cao về đầu tư đồng bộ xây dựng, giao thông, năng lượng hoặc phải thực hiện nhiều thủ tục liên quan đến quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy... Một số dự án trong lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất, logistics và trung tâm dữ liệu cũng cần thời gian chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, nhập khẩu máy móc, thiết bị và tuyển dụng nhân lực chuyên môn...
Ông Neil MacGregor, Tổng Giám đốc Savills Việt Nam nhìn nhận, những chậm trễ trong việc tiếp cận quỹ đất, phê duyệt dự án hoặc hoàn thiện hạ tầng có thể làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến tính khả thi của các dự án FDI.
“Tính minh bạch và khả năng rút ngắn thời gian đưa dự án vào vận hành là yếu tố quan trọng đang được các nhà đầu tư quốc tế xem xét kỹ trong quá trình ra quyết định đầu tư. Một môi trường pháp lý rõ ràng, quy trình phê duyệt thông thoáng sẽ tạo thêm cơ sở để nhà đầu tư dự báo, quản lý tiến độ triển khai và yên tâm đầu tư”, ông Neil MacGregor nói.
Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam ngày càng gia tăng và đạt kỷ lục là điều đáng mừng trong bối cảnh Nhà nước nhìn nhận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế. Theo PGS. TS Lê Xuân Bá, Chuyên gia Kinh tế, vốn đăng ký lớn nhưng vốn thực hiện ít thì việc thu hút FDI chưa thực sự có ý nghĩa nhiều về tính hiệu quả.
“Cần chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng... làm tiêu chí chủ yếu theo đúng tinh thần, quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 10. Tức là chúng ta chỉ tiếp nhận nhà đầu tư nào sử dụng công nghệ cao, công nghệ mà Việt Nam cần để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế và sẵn sàng cam kết chuyển giao công nghệ ít nhất cũng bằng bình quân của các nước Top 4 trong khu vực ASEAN. Nói không với các dự án FDI thâm dụng lao động, tiêu tốn tài nguyên, năng lượng hoặc thuộc các ngành trong nước đã làm chủ được”, ông Bá nêu quan điểm.
Cùng với việc chủ động lựa chọn dòng vốn FDI để nâng chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế cũng đặt ra yêu cầu cấp bách cần nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung cấp, đối tác chiến lược của các tập đoàn FDI. FDI được xem là một động lực quan trọng của nền kinh tế nhưng động lực đó không thể đứng độc lập mà cần cùng với các động lực khác bổ trợ lẫn nhau để tạo ra những giá trị gia tăng thực sự cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế Việt Nam.
Hiện việc chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết giữa các tập đoàn FDI với doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng khi thu hút FDI, PGS. TS Lê Xuân Bá nhận định, nguồn nhân lực của các doanh nghiệp khó tiếp cận được với việc chuyển giao công nghệ cao, công nghệ tiên tiến của FDI.
“Thẳng thắn nhìn nhận thì trình độ khoa học, công nghệ của chúng ta còn khá thấp. Giả sử có doanh nghiệp FDI nào đó chuyển giao công nghệ cao cho thì chúng ta cũng chưa chắc đã tiếp cận được, vì năm nay chúng ta mới phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 29,5% lực lượng lao động. Đây là số lao động được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ sau khi được đào tạo một thời gian, chứ không phải là lao động chất lượng cao để có đủ trình độ tiếp cận với công nghệ cao. Vì vậy chính sách thu hút FDI cần nhất quán theo quan điểm của Nghị quyết 10 đó là chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước”, ông Bá nêu quan điểm.
“Sức mạnh nội lực” của doanh nghiệp nội địa là một trong những nền tảng quan trọng nhất của hệ sinh thái đầu tư nước ngoài. Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt, kiến tạo thể chế, môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cùng với đó là các trụ cột chính sách vĩ mô hỗ trợ để “làm mạnh” nội lực cho doanh nghiệp. Theo TS Nguyễn Quốc Việt, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), Việt Nam đã thu hút thành công dòng vốn đầu tư FDI, nhưng mức độ làm chủ công nghệ còn hạn chế. Sự liên kết giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa như kỳ vọng.
“Doanh nghiệp nội địa không sợ cạnh tranh, nhưng họ lo ngại là môi trường chính sách thiếu ổn định, khó dự báo và các can thiệp hành chính. Hơn nữa, bản thân doanh nghiệp vẫn đang phải gánh chịu nhiều loại chi phí phát sinh từ sự chồng chéo của các quy định pháp luật, thủ tục hành chính phức tạp cũng như những chi phí giao dịch không cần thiết. Cải cách thể chế là khâu đột phá quan trọng nhất để khơi thông mọi nguồn lực phát triển, tạo ra sức mạnh nền tảng cho doanh nghiệp và cho chính nền kinh tế để đủ sức trở thành đối tác chiến lược của khu vực FDI cũng như đủ năng lực cạnh tranh để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu”, TS Việt phân tích.
Nghị quyết 10 đã đề ra nhiệm vụ, phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước. Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
Ở góc nhìn đối với việc tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế cho thấy, nhiều năm qua để thu hút FDI chúng ta đã dành nhiều chính sách và các ưu đãi hay nói cách khác là “trải thảm đỏ” để thu hút họ. Tuy nhiên ở chiều ngược lại, cũng cần “trải thảm đỏ thế chế, cơ chế, chính sách” cho chính doanh nghiệp trong nước và tạo không gian tăng trưởng tốt nhất cho doanh nghiệp nội địa. Điều này chính là tạo ra sức mạnh và giá trị gia tăng lâu dài, bền vững cho nền kinh tế. Việt Nam đã và đang đặt ra nhiều mục tiêu lớn lao về tăng trưởng hai con số, tăng trưởng cao, bền vững; trở thành quốc gia có thu nhập cao, tự chủ, tự cường về kinh tế...
Muốn thực hiện được các mục tiêu đó, nền kinh tế cần độc lập, không bị phụ thuộc, “sức mạnh” nội lực phải đến từ thể chế, chính sách và các thành phần kinh tế cũng như các doanh nghiệp nội địa.
Từ khóa: Thu hút FDI, thu hút FDI, đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp nội địa, Nghị quyết 10, chính sách thu hút FDI
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: lê thanh - ctv phượng ngọc/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN