Đột phá phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược

Cập nhật: 56 phút trước

VOV.VN - Với danh mục 10 công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược được công bố trong Quyết định 21/QĐ-TTg ngày 30/4/2026, chỗ dựa đột phá phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược (CNCL&SPCNCL) kỷ nguyên mới được xác định.

Quyết định này là bước cụ thể hóa kịp thời Nghị quyết 57/NQ-BCT ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Điều này mở ra thời kỳ phát triển mới về chiều rộng và chiều sâu năng lực công nghệ đất nước, làm sâu sắc đột phá chiến lược, củng cố yếu tố then chốt trong xác lập mô hình tăng trưởng mới. Đột phá phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược (CNCL&SPCNCL) tập trung 3 trụ cột: Phát huy bản chất tài sản chiến lược, làm chủ triệt để và thương mại hóa hiệu quả CNCL&SPCNCL.

Phát huy bản chất tài sản chiến lược

CNCL&SPCNCL là tài sản chiến lược, quyết định vị thế và năng lực tự chủ chiến lược của tập đoàn và quốc gia. Việc sao chép, học hỏi phức tạp, chi phí đầu tư nghiên cứu và phát triển lớn, rủi ro cao, đội ngũ nghiên cứu trình độ chuyên sâu, quy trình bảo mật và bảo hộ đặc biệt khắt khe, quá trình thương mại hóa gắn với ràng buộc pháp lý chặt chẽ, phạm vi phổ biến hạn chế.

Danh mục CNC&SPCNC được phân loại khoa học và cụ thể trong Quyết định 21/QĐ-TTg ngày 30/4/2026. Đây là 10 công nghệ lõi của thế giới như công nghệ số, công nghệ mạng di động, công nghệ chip bán dẫn... Có 30 sản phẩm công nghệ cao gồm nhóm 22 sản phẩm đã có thị trường như AI, điện toán đám mây, sản xuất thông minh… và 8 sản phẩm tạo động lực tăng trưởng mới như truyền thông lượng tử, lò phản ứng hạt nhân quy mô nhỏ, vệ tinh quỹ đạo thấp, đường sắt tốc độ cao... Các loại CNC&SPCNC sẽ làm thay đổi trạng thái của nền tảng và năng lực công nghệ đất nước.

CNCL&SPCNCL tạo sản phẩm khác biệt về chất lượng và trình độ công nghệ, làm thay đổi cơ cấu và tổng cầu thị trường, bảo đảm lợi nhuận độc quyền. Đây là kết quả của các khoản chi rất lớn vào nghiên cứu và phát triển để tạo năng lực cốt lõi và giá trị cốt lõi. CNCL&SPCNCL tạo điều kiện để doanh nghiệp làm chủ chuỗi cung ứng, đảm nhận khâu có giá trị gia tăng cao, gia tăng giá trị doanh nghiệp và cải thiện mô hình kinh doanh. Doanh nghiệp có tài sản chiến lược này thuận lợi trong chọn đối tác chiến lược để hợp tác phát triển.

Các doanh nghiệp và quốc gia có tài sản chiến lược, áp dụng nhanh chóng vào sản xuất, có khả năng chi phối thị trường, năng lực cạnh tranh cao, khẳng định hiệu quả cao trong nghiên cứu và phát triển,. Trong điều kiện công nghệ số phát triển, xuất hiện quá trình chuyển đổi số đồng bộ và phổ biến, tài sản công nghệ số trở thành tài sản chiến lược của doanh nghiệp, tổ chức và quốc gia.

Làm chủ triệt để CNCL &SPCNCL

Làm chủ triệt để CNCL&SPCNCL là phương thức tạo lập thực chất và vững chắc vị thế chiến lược tự chủ, tự phát triển CNCL&SPCNCL từ nguồn lực trong nước. Điều này giảm thiểu sự phụ thuộc nước ngoài cũng như phát huy năng lực đội ngũ nhân lực công nghệ trong nước, tạo động lực thúc đẩy chi tiêu nghiên cứu và phát triển, cải thiện khả năng học hỏi, phát huy sức sáng tạo vô hạn. Quá trình này còn thể hiện ý chí vươn lên không ngừng.

Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia thành công trong hiện thực hóa nỗ lực làm chủ công nghệ. Nhật Bản nhập khẩu bằng sáng chế từ Mỹ và các nước châu Âu, Hàn Quốc học hỏi công nghệ từ Mỹ và chấu Âu và Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) học hỏi công nghệ từ Mỹ, Nhật Bản và phát triển cả CNC&SPCNC, Israel có chi phí nghiên cứu và phát triển trong GDP cao nhất thế giới (6,3%) năm 2025. Trung Quốc kết hợp giữa bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ sau 5 năm đầu tư tại Trung Quốc, liên tục tăng chi nghiên cứu và phát triển, vừa giải mã, vừa tập trung nghiên cứu làm chủ CNC&SPCNC.

Xu hướng toàn thế giới cho thấy chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển trong GDP tăng lên từ 1,96% lên 2,59%. Nếu xét về số tuyệt đối, con số này lên tới khoảng 2.850 tỷ USD - gấp khoảng 5,5 lần GDP Việt Nam năm 2025. Hiện tại, chi tiêu này của Việt Nam khoảng 0,5% GDP cho nên cần tăng tỷ trọng này ít nhất 4-5 lần sát với mức bình quân thế giới. Cần coi chi tiêu nghiên cứu và phát triển là chi tiêu “nền” tạo khả năng thu hút và huy động triệt để các nguồn chi tiêu phái sinh từ ngân sách doanh nghiệp, tập đoàn, viện nghiên cứu, trung tâm, cá nhân và tăng khả năng huy động chi tiêu, đầu tư từ nước ngoài.

Để làm chủ CNCL&SPCNCL cần xây dựng hệ sinh thái phát triển thị trường loại hàng hóa đặc biệt này hiệu quả với sự dẫn dắt của nhà nước. Khuôn khổ thể chế phát triển hệ sinh thái cần được xây dựng gồm có chiến lược và các quy định pháp lý đồng bộ, tăng chi tiêu và xây dựng đội ngũ làm chủ triệt để hàng hóa này. Đồng thời, cần phát huy tinh thần, ý chí và văn hóa làm chủ CNCL&SPCNCL trong bộ máy nhà nước, lực lượng doanh nghiệp, cộng đồng nhân dân và từng cá nhân.

Thương mại hóa hiệu quả

Thương mại hóa hiệu quả chuyển hóa CNCL&SPCNCL thành giá trị gia tăng, tăng sức lan tỏa công nghệ và sản phẩm công nghệ. Đây là quá trình tạo thị trường để thu hồi nhanh chóng chi phí nghiên cứu và phát triển, tạo động lực sáng tạo, mở rộng quy mô và thay đổi cơ cấu thị trường hàng hóa, dịch vụ. Thương mại hóa thành công bảo đảm gắn kết chặt chẽ và thực chất giữa viện nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học với doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Việt Nam đã hình thành dần xu hướng thương mại hóa này nhưng chưa đáp ứng với tiềm năng và nhu cầu của doanh nghiệp, người dân và bộ máy nhà nước.

Có các kênh thúc đẩy thương mại hóa gồm tăng kết nối doanh nghiệp với các cơ quan, tổ chức trung tâm và cá nhân nghiên cứu để kết nối cung - cầu CNCL&SPCNCL. Nhà nước phải là tác nhân trước hết và lớn nhất tạo cung và cầu về loại hàng hóa đặc biệt này. Do đó, cần có các đơn đặt hàng quy mô lớn, hoặc và các dự án phát triển hấp thụ các kết qua nghiên cứu và phát triển để tăng tổng cầu, theo đó, tăng chi nghiên cứu và phát triển, khuyến khích sự sáng tạo.

Coi trọng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài kể cả mua các sáng chế trong các lĩnh vực co sức lan toản lớn kết hợp với tự nghiên cứu, học hỏi, giải mã và phát triển của đội ngũ trong nước. Đồng thời, cần chú ý phát triển thị trường sản phẩm công nghệ lưỡng dụng cả quốc phòng và dân sự để tăng tổng cầu đến mức ao nhất.

Quyết liệt phát triển các phương thức kết nối giữa các tập đoàn đa quốc gia với doanh nghiệp trong nước thông qua phát triển năng lực nội sinh CNC&SPCNC để bảo đảm trở thành đối tác tin cậy hợp tác với đối tác chất lượng cao quốc tế.

Phát triển hệ thống khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong CNCL&SPCNCL. Phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm, đầu tư thiện thần, lồng ấp công nghệ cao cùng với khuyến khích các tập đoàn công nghệ, kinh tế, tài chính- ngân hàng, dịch vụ, nông nghiệp chú trọng đầu tư và phát triển bằng vốn của doanh nghiệp. Định hướng phát triển các hàng hóa và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao để tăng động cơ đầu tư phát triển các loại hàng hóa này.

Để đột phá phát triển CNCL&SPCNCL cần phát huy sức mạnh thị trường và vai trò nhà nước. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và phát triển, thị trường không ngừng sáng tạo và hấp thụ triệt để. Mối quan hệ đó vận hành hiệu quả sẽ vừa thúc đẩy phát triên CNCL &SPCNCL, thúc đẩy xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Từ khóa: công nghệ chiến lược, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ, quyêt định 21, trí tuệ nhân tạo, ai

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: pgs.ts. nguyễn thường lạng - giảng viên cao cấp tại viện thương mại và kinh tế quốc tế, trường đại học kinh tế quốc dân (neu)

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập