Đại học đổi mới sáng tạo: Nghiên cứu từ thị trường, không chỉ từ phòng thí nghiệm
Cập nhật: 1 giờ trước
Thời tiết hôm nay 15/6: Hà Nội nắng nóng gay gắt, chiều tối đón mưa dông
Đại học đổi mới sáng tạo: Nghiên cứu từ thị trường, không chỉ từ phòng thí nghiệm
VOV.VN - Nhiều công trình nghiên cứu có chất lượng, nhiều sáng chế được tạo ra nhưng chưa thể đi tiếp hành trình từ phòng thí nghiệm đến nhà máy, doanh nghiệp và thị trường. Muốn khoa học công nghệ thực sự sống được, đổi mới sáng tạo phải bắt đầu từ nhu cầu thị trường, không chỉ từ phòng thí nghiệm.
Sau nhiều năm làm công tác quản lý, nghiên cứu và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, các chuyên gia đều có chung một nhận định: điểm nghẽn lớn nhất của khoa học công nghệ Việt Nam hiện nay không còn nằm ở năng lực nghiên cứu mà nằm ở khâu thương mại hóa. Hệ quả là không ít kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu vẫn nằm trong hồ sơ, thư viện hoặc các cơ sở dữ liệu khoa học.
Theo các chuyên gia, để thay đổi thực trạng này cần những thay đổi đồng bộ từ tư duy nghiên cứu, cơ chế quản lý đến phương thức đánh giá thành tựu khoa học.
Theo TS. Bùi Thị An, một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều kết quả nghiên cứu khó đi vào thực tiễn là do quá trình lựa chọn đề tài chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu của thị trường.
Bà Bùi Thị An cho rằng trong nhiều trường hợp, các nhà khoa học thường bắt đầu từ ý tưởng nghiên cứu hoặc năng lực sẵn có của mình, trong khi điều cần làm trước tiên là xác định thị trường đang cần gì.
"Điều quan trọng nhất là phải bắt đầu từ câu hỏi thị trường cần gì. Nếu không xuất phát từ nhu cầu thực tế thì rất khó tạo ra sản phẩm có khả năng thương mại hóa", TS. Bùi Thị An nhấn mạnh.
Theo bà, đổi mới sáng tạo không có nghĩa mọi thứ đều phải hoàn toàn mới. Một giải pháp cải tiến, một công nghệ được hoàn thiện hơn hoặc một cách làm mới giúp giải quyết hiệu quả vấn đề của xã hội cũng là đổi mới sáng tạo.
"Bây giờ chúng ta có rất nhiều chủ trương, nghị quyết về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhưng cuối cùng chỉ có thực tiễn mới kiểm chứng được giá trị của một công trình nghiên cứu", bà nói.
TS. Bùi Thị An cho rằng quá trình nghiên cứu cần được thực hiện nghiêm túc, khách quan, tránh chạy theo thành tích hoặc hình thức. Sau nghiên cứu, công tác thẩm định và đánh giá phải được tiến hành chặt chẽ với sự tham gia của các hội đồng chuyên gia độc lập nhằm bảo đảm chất lượng trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Theo bà, nếu các thủ tục thẩm định, phê duyệt và hỗ trợ kéo dài quá lâu, nhiều sản phẩm sẽ đánh mất cơ hội cạnh tranh.
"Chủ trương đã có rồi. Vấn đề là tổ chức thực hiện như thế nào cho hiệu quả. Nếu chậm trễ, sản phẩm nghiên cứu có thể mất cơ hội hoặc trở nên lạc hậu trước khi được đưa ra thị trường", bà cảnh báo.
Từ góc độ nhà khoa học trực tiếp thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ, PGS.TS Nguyễn Minh Tân – Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng các Hợp chất Thiên nhiên, giảng viên Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội, đồng thời là một trong 100 nhà khoa học xuất sắc châu Á năm 2026cũng cho rằng nhận thức và tư duy thị trường đang là một trong những nút thắt lớn nhất hiện nay.
Theo bà, nhiều chủ doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc cơ sở sản xuất vẫn chưa hiểu đầy đủ giá trị mà khoa học công nghệ có thể mang lại. Bên cạnh đó, tư duy sản xuất cũng cần thay đổi theo hướng lấy nhu cầu thị trường làm trung tâm. "Chúng ta phải chuyển từ tư duy bán cái mình có sang tư duy sản xuất cái thị trường cần", bà nhấn mạnh.
Nữ giảng viên cho rằng người sản xuất cần chủ động tìm hiểu nhu cầu của thị trường thay vì chỉ tập trung vào những sản phẩm quen thuộc. Điều quan trọng là hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh chứ không phải giữ mãi một phương thức sản xuất đã không còn phù hợp.
Theo các chuyên gia, đây cũng là tư duy cốt lõi của đổi mới sáng tạo trong giai đoạn hiện nay: nghiên cứu phải gắn với nhu cầu thực tiễn và hướng tới giải quyết các bài toán của xã hội.
Bên cạnh câu chuyện thị trường, một vấn đề khác được nhiều chuyên gia nhắc đến là cơ chế đánh giá nhà khoa học.
Theo bà Lê Thị Khánh Vân, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Khởi nghiệp thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam, nếu muốn thúc đẩy thương mại hóa thì trước hết cần thay đổi cách đo lường thành công của các nhà khoa học.
"Tôi cho rằng cần xây dựng các chỉ số đánh giá cụ thể, trong đó coi kết quả thương mại hóa là một tiêu chí quan trọng. Không nên chỉ đánh giá bằng số lượng bài báo khoa học hay số lượng bằng sáng chế", bà đề xuất.
Theo bà, hiện nay có những nhà khoa học sở hữu nhiều bằng sáng chế nhưng chưa từng thương mại hóa được sản phẩm nào. Ngược lại, có những người đưa được công nghệ vào doanh nghiệp, tạo ra doanh thu và giá trị kinh tế nhưng chưa được ghi nhận tương xứng.
Bà cho rằng các hoạt động như chuyển giao công nghệ, cấp quyền sử dụng công nghệ, thu tiền bản quyền hay góp vốn bằng công nghệ cần được đưa vào hệ thống đánh giá thành tích của nhà khoa học và các cơ sở nghiên cứu.
"Nếu một nhà khoa học chuyển giao được công nghệ, thu được tiền bản quyền hoặc đưa được sản phẩm ra thị trường thì phải được ghi nhận, khen thưởng và xem đó là một lợi thế trong quá trình xét các chức danh, danh hiệu khoa học", bà nhấn mạnh.
Quan điểm này cũng nhận được sự đồng tình từ PGS.TS Nguyễn Minh Tân. Theo bà, hiện nay nhiều nơi vẫn đặt trọng tâm quá lớn vào số lượng công bố khoa học, trong khi các hoạt động sáng chế, chuyển giao công nghệ hay thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu chưa được đánh giá tương xứng.
"Nếu bài báo luôn được xem là thước đo quan trọng nhất thì nhà khoa học sẽ dồn sức cho bài báo. Nhưng có những người mạnh về sáng chế, về chuyển giao công nghệ và họ cũng cần được công nhận", bà nhận định.
Không chỉ dừng ở cơ chế đánh giá, các chuyên gia cũng cho rằng cần hoàn thiện hệ sinh thái hỗ trợ thương mại hóa khoa học công nghệ.
"Doanh nghiệp muốn đầu tư vào công nghệ mới luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đủ mạnh, hiệu quả và bền vững để khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh", TS. Bùi Thị An đề xuất.
Theo TS. Bùi Thị An, cần xây dựng mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, bệnh viện, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước. Trong hệ sinh thái đó, cơ quan quản lý phải đóng vai trò hỗ trợ và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh ngay từ đầu thay vì để các nhà khoa học tự xoay xở.
Đặc biệt, Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào công nghệ mới, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, chip, vật liệu mới hay công nghệ sinh học.
Còn PGS.TS Nguyễn Minh Tân cho rằng điều họ cần nhất hiện nay là một cơ chế rõ ràng, minh bạch và dễ thực hiện. Theo bà, chủ trương phát triển khoa học công nghệ hiện đã rất rõ ràng, nhưng khoảng cách giữa chính sách và triển khai thực tế vẫn còn khá lớn. "Chính sách thì có nhiều rồi nhưng hướng dẫn thực hiện cụ thể lại thiếu. Vì thế nhiều người muốn làm nhưng không biết phải làm như thế nào cho đúng", bà chia sẻ.
Nữ giảng viên dẫn chứng có những đề tài đã được phê duyệt kinh phí nhưng quá trình giải ngân vẫn gặp nhiều khó khăn vì thủ tục hành chính phức tạp.
Theo bà, nếu có một cơ chế thông thoáng hơn, nội lực của các nhà khoa học Việt Nam sẽ được phát huy mạnh mẽ. "Các nhà khoa học Việt Nam có nội lực rất lớn. Tôi không chỉ kỳ vọng mà tin chắc rằng nếu có cơ chế phù hợp, những thành tựu khoa học công nghệ của Việt Nam sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều", bà khẳng định.
Khoa học công nghệ đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước. Tuy nhiên, để biến kỳ vọng thành hiện thực, những kết quả nghiên cứu cần bước ra khỏi phòng thí nghiệm, đi vào doanh nghiệp, nhà máy và đời sống. Bởi giá trị cuối cùng của một công trình nghiên cứu không chỉ nằm ở bài báo khoa học hay bằng sáng chế, mà còn ở việc nó tạo ra sản phẩm, giải quyết vấn đề thực tiễn và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Từ khóa: đại học, VOV, đại học đổi mới, giải pháp, nhu cầu thị trường, thương mại hóa, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ
Thể loại: Xã hội
Tác giả: thu hằng/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN