Biến phế phẩm nông nghiệp thành than sinh học - mô hình mới, triển vọng cao
Cập nhật: 1 giờ trước
Hưng Yên chốt hạn chót cho 24 dự án chậm giải phóng mặt bằng
Biến phế phẩm nông nghiệp thành than sinh học - mô hình mới, triển vọng cao
VOV.VN - Những chiếc gáo dừa tưởng chừng chỉ là phế phẩm, có khi bị bỏ đi hoặc bán với giá rất thấp. Nhưng nếu được đưa vào một quy trình sản xuất phù hợp, chúng có thể trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Những phế phẩm nông nghiệp ấy, một kỹ sư cơ khí ở Đồng Tháp đã chế tạo lò sản xuất than sinh học tuần hoàn.
Sản xuất ra than sinh học, tuần hoàng ít khói bụi mà còn cho ra nhiều sản phẩm khác có giá trị, trong đó có sản phẩm đã được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Đó là câu chuyện về anh Mai Đức Lại, ở ấp An Ninh, xã Vĩnh Hựu, tỉnh Đồng Tháp. Một sáng kiến từ thực tiễn sản xuất, nhưng cũng là minh chứng sinh động cho tinh thần đổi mới sáng tạo, đưa khoa học, công nghệ vào cuộc sống theo tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
Với tấm bằng kỹ sư cơ khí, anh Mai Đức Lại từng có nhiều năm đi làm thuê ở nhiều nơi để mưu sinh. Đầu năm 2026, anh quyết định trở về quê vợ tại ấp An Ninh, xã Vĩnh Hựu để lập nghiệp. Những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong những năm tháng làm việc xa quê được anh bắt đầu vận dụng vào một hướng đi mới: sản xuất than sinh học từ phế phẩm nông nghiệp. Nhưng thay vì sử dụng những lò đốt than truyền thống vốn phát sinh khói bụi và nước thải, anh Lại chọn cách tự nghiên cứu, cải tiến lò đốt theo hướng tuần hoàn. Hơn nửa năm mày mò, thử nghiệm, điều chỉnh từng công đoạn, đến nay 2lò đốt than sinh học của anh đã cơ bản hoàn thiện và đi vào sản xuất.
Nguyên liệu chính hiện nay của cơ sở là gáo dừa. Sau khoảng 3 giờ nhiệt phân, mỗi mẻ sản xuất có thể tạo ra 3 sản phẩm gồm: than hoạt tính, bột than sinh học và giấm gỗ.
Trong đó, than hoạt tính chất lượng cao được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Bột than được sử dụng để cải tạo đất hoặc sản xuất than tổ ong; còn giấm gỗ được dùng để sản xuất các chế phẩm sinh học và xử lý môi trường.
Trung bình mỗi tháng, cơ sở sản xuất khoảng 30 tấn than hoạt tính, 9.000 lít giấm gỗ và 6 tấn bột than. Điều đáng chú ý là sản phẩm làm ra hiện vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Anh Mai Đức Lại chia sẻ: “Mình thấy than sinh học này đảm bảo chất lượng, có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Giấm gỗ có thể phục vụ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ thực vật, hạn chế sâu bệnh, giúp cây phát triển tốt, kích thích bộ rễ. Tôi thấy những ứng dụng này rất có ích cho bà con nông dân và ngành nông nghiệp nên bắt đầu nghiên cứu làm. Ban đầu tôi thử nghiệm bằng thùng phuy, sau đó làm lò đốt than lớn hơn theo mẫu lò đứng. Thấy mô hình có hiệu quả, tôi tiếp tục đầu tư lò mới, áp dụng công nghệ lò nằm để sản xuất than với sản lượng nhiều hơn và ổn định hơn.”
Không chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế, anh Lại còn tìm cách hạn chế khói thải ra môi trường. Anh nghiên cứu hệ thống “tuần hoàn khói”, trong đó phần khói chưa cháy hết, hay còn gọi là “khói sống”, được đưa trở lại buồng đốt để đốt tiếp. Cách làm này giúp tận dụng nhiệt từ khói, góp phần nâng nhiệt độ cho lò, giảm lượng nhiên liệu sử dụng và hạn chế khói thải ra môi trường. Theo anh Lại, đây là công đoạn khó, phải nghiên cứu, thử nghiệm trong thời gian dài. Đến nay, giải pháp này đã bước đầu mang lại hiệu quả. Không chỉ sử dụng gáo dừa, cơ sở còn nghiên cứu tận dụng nhiều loại phế phẩm nông nghiệp khác như vỏ sầu riêng, hạt xoài, cây bắp, cây ớt... để sản xuất than sinh học.
Theo anh Lại, than làm từ cây ớt, hạt xoài có thể dùng để cải tạo đất, giúp đất tơi xốp, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển. Giấm gỗ được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ bảo vệ cây trồng và hạn chế sâu bệnh. Riêng than làm từ gáo dừa có chất lượng cao, hiện được xuất khẩu sang Nhật Bản và một số thị trường khác. Phần bột than, tro sau quá trình đốt cũng có thể tận dụng trong nông nghiệp để cải tạo đất. Để đầu tư một lò sản xuất than sinh học, theo anh Lại cần khoảng 4.000 m² đất và nguồn vốn hơn 1 tỷ đồng. Với quy mô này, lò có thể xử lý khoảng 20 tấn gáo dừa mỗi ngày đêm.
Do mới khởi nghiệp, mô hình sản xuất than sinh học của anh Mai Đức Lại vẫn còn gặp khó khăn, nhất là về quỹ đất và vốn đầu tư. Trong khi đó, đầu ra sản phẩm khá thuận lợi, thị trường trong nước và xuất khẩu đều có nhu cầu cao, nhưng cơ sở chưa đủ năng lực sản xuất để đáp ứng khách hàng.
Sau khi mô hình bước đầu phát huy hiệu quả, nhiều doanh nghiệp và khách hàng đã đến tham quan, tìm hiểu giải pháp kỹ thuật. Các ngành chức năng của tỉnh Đồng Tháp như Sở Tài chính, Sở Công Thương cũng đã tổ chức đoàn đến khảo sát, tìm hiểu mô hình và có hướng hỗ trợ về vốn để anh Lại tiếp tục hoàn thiện, mở rộng sản xuất.
Không dừng lại ở quy mô một cơ sở nhỏ, mô hình này đang được kết nối để phát triển lớn hơn. Mới đây, một doanh nghiệp Trung Quốc cũng đã đến tham quan mô hình sản xuất than sinh học của anh Mai Đức Lại và một số cơ sở chuyên sản xuất than gáo dừa khác để tìm hiểu, đặt vấn đề thu mua sản phẩm.
Từ những phế phẩm tưởng chừng bỏ đi, qua quá trình nghiên cứu và đầu tư công nghệ, anh Mai Đức Lại đang từng bước tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế, góp phần giảm chất thải nông nghiệp, bảo vệ môi trường và mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế tuần hoàn tại địa phương.
Một trong những người nhìn thấy tiềm năng của mô hình này là ông Phạm Quang Trường, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Trường Minh Phát, tại phường Trung An, tỉnh Đồng Tháp. Ông Trường đã liên kết với anh Mai Đức Lại để xây dựng nhà máy sản xuất than sinh học tại ấp Tân Phú, xã Tân Thuận Bình, với diện tích nhà xưởng khoảng 2.000 mét vuông.
Với vai trò cố vấn kỹ thuật, anh Mai Đức Lại cùng doanh nghiệp từng bước đưa nhà máy vào hoạt động. Những sản phẩm đầu tiên đã được sản xuất và đạt các tiêu chuẩn theo yêu cầu của đối tác.
Theo ông Phạm Quang Trường, dù chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, nhưng qua quá trình đầu tư, xây dựng và vận hành lò sản xuất than dạng nằm, ông nhận thấy công nghệ này mang lại hiệu quả, nhất là trong việc hạn chế khói bụi phát tán ra môi trường.
Mặc dù mới thử nghiệm thành công, mỗi ngày đêm, lò đốt của ông có thể sản xuất gần 2 tấn than thành phẩm phục vụ xuất khẩu. Nhiều đối tác trong và ngoài khu vực đã đến kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm và bày tỏ nhu cầu ký hợp đồng cung cấp cả đầu ra sản phẩm lẫn đầu vào là nguyên liệu gáo dừa.
Ông Phạm Quang Trường cho biết, thời gian tới sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ sở sản xuất than sinh học khác để hình thành chuỗi liên kết, vừa bảo đảm nguồn nguyên liệu đầu vào, vừa ổn định đầu ra cho sản phẩm.
Không chỉ doanh nghiệp của ông Phạm Quang Trường, mô hình này cũng đang nhận được sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp khác.
Sau khi tham quan lò sản xuất than của anh Mai Đức Lại và ông Phạm Quang Trường, ông Nguyễn Văn Hùng và ông Lê Văn Vũ, là các chủ doanh nghiệp tại xã Chợ Gạo và xã An Thạnh Thủy, tỉnh Đồng Tháp, đều đánh giá cao công nghệ sản xuất than theo hướng tuần hoàn khói và đang nghiên cứu đầu tư để mở rộng ngành nghề kinh doanh.
Ông Nguyễn Văn Hùng chia sẻ: “ Tôi nhận thấy công nghệ đốt than này ổn hơn mô hình truyền thống, nhất là hạn chế được lượng khói phát tán ra môi trường. Tôi thấy mô hình này góp phần nâng cao giá trị trái dừa của nông dân địa phương. Trước đây, dừa khô chủ yếu được xuất khẩu, còn gáo dừa thường được đốt với công nghệ cũ. Công nghệ mới có thể tạo ra sản phẩm giá trị cao hơn, giúp tăng thu nhập cho nông dân, đồng thời tạo ra sản phẩm phục vụ xuất khẩu, mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Tôi nghĩ mô hình này cần được nghiên cứu, nhân rộng để mang lại lợi ích cho người dân và đất nước.”
Sản xuất than từ gáo dừa thực ra không phải là nghề mới. Tại khu vực miền Tây, đặc biệt là vùng Bến Tre trước đây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long, nghề sản xuất than gáo dừa đã hình thành từ lâu. Tuy nhiên, phương thức sản xuất truyền thống cũng bộc lộ không ít hạn chế, nhất là tình trạng khói bụi và nước thải có thể ảnh hưởng đến môi trường. Vì vậy, việc nghiên cứu, chế tạo lò sản xuất than sinh học theo công nghệ tuần hoàn không chỉ có ý nghĩa trong việc tạo ra sản phẩm mới, mà còn mở ra hướng xử lý hiệu quả nguồn phế phẩm nông nghiệp.
Từ những chiếc gáo dừa vốn được xem là phế phẩm, giờ đây có thể tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị như than hoạt tính phục vụ thị trường xuất khẩu, bột than phục vụ sản xuất và cải tạo đất, cùng giấm gỗ ứng dụng trong nông nghiệp và xử lý môi trường. Mỗi phế phẩm được tận dụng hiệu quả cũng đồng nghĩa với việc giảm lãng phí tài nguyên, hạn chế chất thải và mở thêm cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Nhìn từ thực tiễn, đổi mới sáng tạo không nhất thiết phải bắt đầu từ những phòng thí nghiệm lớn hay những công trình quy mô. Đôi khi, đổi mới bắt đầu từ chính những vấn đề rất gần gũi trong cuộc sống.
Như câu chuyện của anh Mai Đức Lại. Từ những chiếc gáo dừa tưởng chừng bỏ đi, anh đã tìm cách tạo ra một quy trình sản xuất mới. Từ kinh nghiệm thực tế, anh tự nghiên cứu, chế tạo và từng bước hoàn thiện thiết bị. Từ một mô hình thử nghiệm ban đầu, sản phẩm đã tìm được thị trường, thu hút doanh nghiệp quan tâm và mở ra hướng phát triển ở quy mô lớn hơn. Đó là một minh chứng cho tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới và đưa tri thức vào thực tiễn sản xuất.
Mô hình sản xuất than sinh học theo hướng tuần hoàn của anh Mai Đức Lại vẫn còn nhiều việc phải làm để tiếp tục hoàn thiện. Tuy nhiên, nếu được hỗ trợ về quỹ đất, nguồn vốn, thủ tục pháp lý, công nghệ và thị trường, mô hình này có thể được nghiên cứu, mở rộng và nhân rộng phù hợp với điều kiện thực tế.
Không chỉ tạo ra sản phẩm phục vụ xuất khẩu, mô hình còn góp phần nâng cao giá trị phế phẩm nông nghiệp, giảm áp lực đối với môi trường, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
Từ một chiếc gáo dừa bỏ đi đến một sản phẩm có giá trị xuất khẩu – đó không chỉ là câu chuyện về một mô hình sản xuất. Đó còn là câu chuyện về sức sáng tạo của người dân, về khoa học và công nghệ bắt nguồn từ thực tiễn, và về cách biến những điều tưởng như nhỏ bé thành những giá trị lớn hơn.
Từ khóa: than , phế phẩm nông nghiệp, than sinh học, mô hình mới, triển vong cao, Đồng Tháp
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: chu trinh/vov-đbscl
Nguồn tin: VOVVN