Nghị quyết 23 khơi thông nguồn lực lớn từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài
Cập nhật: 1 giờ trước
VOV.VN - Nghị quyết 23-NQ/TW mở ra cách tiếp cận mới trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài: từ “chăm lo, vận động” sang “đồng hành, kiến tạo”, từ kết nối riêng lẻ sang xây dựng mạng lưới, hệ sinh thái để nguồn lực của hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài được phát huy thực chất hơn cho phát triển đất nước.
Trong 7 năm học tập, sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, chị Trịnh Ngọc Hân, đang theo học Chương trình Tiến sĩ ngành Marketing tại trường đại học Chosun, luôn mong muốn những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy của mình có thể đóng góp cho quê hương.
Chị Hân tin tưởng, mỗi người Việt đang sinh sống ở nước ngoài đều có thể trở thành cầu nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp của hai quốc gia. Trong đó, những chương trình nghiên cứu chung, trao đổi giảng viên và sinh viên, học bổng đào tạo nhân tài, chuyển giao công nghệ hay hợp tác giữa doanh nghiệp Hàn Quốc với các dự án khởi nghiệp tại Việt Nam đều có thể là những hướng hợp tác cụ thể.
Điều đáng chú ý là vai trò của kiều bào trong cách tiếp cận này không chỉ nằm ở việc “mang nguồn lực về Việt Nam”. Họ còn có thể giúp hai bên hiểu nhau hơn, tìm kiếm đối tác phù hợp, kết nối nhu cầu thực tế và hạn chế những khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa.
Nhưng để những kết nối đó không dừng ở một cuộc gặp hay một sự kiện, chị Hân cho rằng cần có một đầu mối rõ ràng để tiếp nhận đề xuất, hỗ trợ thủ tục và theo sát các dự án hợp tác.
“Tôi tin rằng nhiều người Việt xa quê cũng luôn mong muốn được cống hiến; điều cần thiết là có những cầu nối phù hợp để mong muốn đó trở thành những đóng góp thực sự có ích cho đất nước. Vì vậy, khi người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực trực tiếp đóng góp cho đất nước, tôi cảm thấy những mong muốn của mình được thấu hiểu và trân trọng”, chị Hân chia sẻ.
Câu chuyện của một nghiên cứu sinh tại Hàn Quốc cho thấy một vấn đề lớn hơn: nguồn lực không phải lúc nào cũng thiếu, nhưng nếu thiếu cơ chế kết nối thì nguồn lực khó chuyển thành giá trị cụ thể.
Đó cũng là một trong những điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Nghị quyết 23-NQ/TW khi xác định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng của công tác vận động, mà là “bộ phận không tách rời”, là nguồn lực chiến lược và là chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Nếu nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng, thì cách thức phát huy nguồn lực ấy cũng không thể giống nhau ở mọi nơi.
Đại sứ Việt Nam tại LB Nga Đặng Minh Khôi cho rằng không thể sử dụng một cách làm giống nhau ở tất cả các địa bàn mà cần hiểu đặc điểm và cách tiếp nhận của từng xã hội.
Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Không chỉ thực hiện công tác đối ngoại, bảo hộ công dân và hỗ trợ cộng đồng, cơ quan đại diện còn cần hiểu rõ cộng đồng người Việt tại địa bàn, nhận diện được những thế mạnh và chủ động kết nối với nhu cầu trong nước.
Đại sứ cho rằng, Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài rất quan trọng, được ban hành đúng lúc, đúng thời điểm và rất kịp thời trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Theo tinh thần Nghị quyết 23, các cơ quan đại diện từng bước trở thành đầu mối kết nối nguồn lực người Việt Nam tại địa bàn, gắn nhu cầu phát triển của các bộ, ngành, địa phương trong nước với thế mạnh của kiều bào.
“Muốn phát huy hiệu quả nguồn lực kiều bào, trước hết cần xác định cộng đồng có thế mạnh gì, ở đâu và có thể đóng góp theo hình thức nào”, Đại sứ Đặng Minh Khôi nhấn mạnh.
Theo Đại sứ, Nghị quyết 23 đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái kết nối người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và những người có khả năng đóng góp trong các lĩnh vực đất nước ưu tiên.
Khi đó, cách tiếp cận sẽ thay đổi: thay vì tìm kiếm và vận động từng cá nhân, có thể hình thành những mạng lưới hoạt động thường xuyên. Quan trọng hơn, đóng góp của kiều bào không nhất thiết phải gắn với việc trở về nước làm việc trực tiếp. Họ có thể tư vấn, nghiên cứu, chuyển giao tri thức, kết nối thị trường, đầu tư, hợp tác khoa học - công nghệ hoặc đóng góp từ xa thông qua các nền tảng và mạng lưới chuyên môn.
“Theo tôi, điểm đổi mới quan trọng nhất là sự chuyển biến trong tư duy. Nếu trước đây trọng tâm là vận động, thu hút bà con hướng về quê hương thì nay Nghị quyết nhấn mạnh việc tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài thực sự trở thành một bộ phận của cộng đồng dân tộc, tham gia sâu hơn vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Đây là một bước phát triển mang tính chiến lược”, Đại sứ Đặng Minh Khôi nói.
Khi người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận không chỉ là đối tượng của công tác vận động mà là đối tác, là chủ thể và là nguồn lực chiến lược, chính sách cũng cần chuyển theo hướng tạo thêm không gian để cộng đồng tham gia.
Đó có thể là tham gia vào các chương trình phát triển quốc gia, đóng góp ý kiến chính sách, hợp tác khoa học - công nghệ, đầu tư, kinh doanh, giáo dục, văn hóa hoặc kết nối Việt Nam với các đối tác quốc tế.
Sự thay đổi ấy cũng đặt ra yêu cầu đối với chính cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Khi được trao thêm vai trò chủ thể, kiều bào không chỉ chờ đợi chính sách mà có thể chủ động xây dựng mạng lưới, kết nối tri thức, mở rộng hợp tác và đưa những giá trị của Việt Nam đến gần hơn với xã hội sở tại.
Nghị quyết 23 vì thế không chỉ là sự tiếp nối của công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong hơn hai thập kỷ qua, mà còn mở ra một cách tiếp cận mới: từ vận động sang đồng hành, từ huy động sang kiến tạo, từ những kết nối riêng lẻ sang xây dựng mạng lưới và từ nguồn lực tiềm năng sang nguồn lực phát triển.
Để tinh thần đó trở thành hiện thực, điều quyết định không chỉ nằm ở việc có thêm chính sách, mà ở khả năng tạo ra những cơ chế kết nối cụ thể, minh bạch và hiệu quả, để mỗi người Việt Nam ở nước ngoài, dù đang ở đâu, làm việc trong lĩnh vực nào, đều có thể tìm thấy một con đường phù hợp để đóng góp cho quê hương.
Sau hơn hai thập kỷ triển khai Nghị quyết 36, đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài đối với đất nước ngày càng rõ nét. Kiều hối tăng từ 2,3 tỷ USD năm 2004 lên 17,7 tỷ USD năm 2025; tổng lượng kiều hối được thống kê từ năm 1993 đã vượt 250 tỷ USD.
Nhưng những con số đó mới phản ánh một phần nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Nghị quyết 23 hướng tới việc khơi thông những nguồn lực chưa được phát huy đầy đủ, đặc biệt trong khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh thái khởi nghiệp. Đồng thời, đánh dấu bước chuyển cả về nhận thức và phương thức hành động: từ “chăm lo, vận động” sang “đồng hành, kiến tạo”; từ những hoạt động riêng lẻ sang kết nối bằng mạng lưới; từ nhìn nhận kiều bào như đối tượng của chính sách sang coi cộng đồng là chủ thể tham gia trực tiếp vào sự phát triển của đất nước.
Khi những định hướng đi đó được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách phù hợp và những đầu mối kết nối hiệu quả, nguồn lực của hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài sẽ không chỉ là một tiềm năng được nhắc đến, mà có thể trở thành một mạng lưới nguồn lực toàn cầu gắn kết ngày càng chặt chẽ với công cuộc phát triển đất nước.
Từ khóa: người Việt, người Việt ở nước ngoài, Moscow, Việt Nam, Việt Nga
Thể loại: Tin tức sự kiện
Tác giả: hoàng linh/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN