Nền tảng then chốt để Việt Nam xác lập mô hình phát triển mới
Cập nhật: 1 giờ trước
Hơn 400 doanh nghiệp tham dự Hội nghị xúc tiến đầu tư tại Hải Phòng
Nâng cấp Tỉnh lộ 676 chậm tiến độ, cuộc sống người dân gặp khó khăn
VOV.VN - Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tạo lập các động lực dựa trên 3 nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giai đoạn tăng trưởng cao, bền vững và bao trùm.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 1/2026) đã xác lập những quyết sách mang tính bước ngoặt: Đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên cho giai đoạn 2026 - 2030, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026 với chủ đề: “Mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức ngày 25/3, các chuyên gia và nhà khoa học cùng đánh giá, cần nhận diện những yêu cầu mới của phát triển đất nước, trong bối cảnh quốc tế và trong nước biến đổi nhanh chóng, đồng thời làm rõ các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xác lập mô hình phát triển mới của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo.
GS.TS Trần Thị Vân Hoa (Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội) cho rằng, bên cạnh những thành công trong thời gian qua, mô hình phát triển đất nước cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định dẫn đến hiệu quả tổng thể của nền kinh tế còn thấp. Ngay tại Văn kiện Đại hội XIV cũng đã thẳng thắn nhận định, mô hình tăng trưởng chưa thực sự dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tái cơ cấu kinh tế còn chậm, thiếu đột phá; nội lực nền kinh tế còn yếu; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp.
“Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam chưa cao là do một số nguyên nhân. Một là, mặc dù TFP tăng dần, nhưng so với các quốc gia đi trước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan trong giai đoạn tăng trưởng cao tương ứng, đóng góp TFP của Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể. Hai là, chi tiêu cho R&D còn khiêm tốn. Chi tiêu cho khoa học - công nghệ mới khoảng 0,53% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Ba là, năng lực nội sinh hạn chế, xuất khẩu chủ yếu dựa vào FDI, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa thấp so với các quốc gia khác trên thế giới”, GS.TS Trần Thị Vân Hoa chỉ ra.
Xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới quản trị quốc gia, nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia, ông Huỳnh Quyết Thắng, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu tập trung vào các trụ cột cốt lõi như thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược, trong đó
“Cần phải thể chế hóa vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bằng các chỉ tiêu về R&D, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, năng suất công nghệ, mức độ số hóa và hiệu quả quản trị số cần từng bước trở thành một phần của bộ tiêu chí quản trị DNNN. Đồng thời, xây dựng cơ chế đầu tư linh hoạt hơn cho R&D, thí điểm công nghệ và đổi mới sáng tạo trong DNNN; phát triển hệ sinh thái nhân lực công nghệ và đổi mới sáng tạo trong DNNN”, ông Thắng nêu đề xuất.
Cần thiết phát triển ngành kinh tế dữ liệu như là 1 động lực của mô hình tăng trưởng mới, ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch HĐQT/Chủ tịch điều hành, Tập đoàn Công nghệ CMC cho rằng, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thế giới đã công nhận dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược và là yếu tố sản xuất thứ năm (bên cạnh đất đai, lao động, vốn và công nghệ). Thị trường dữ liệu toàn cầu đang tăng trưởng mạnh mẽ, dự kiến đạt 11,27 tỷ USD vào năm 2034. Cuộc cạnh tranh về dữ liệu đã trở thành "chiến trường mới" trong địa chính trị toàn cầu.
“Tại Việt Nam, nền kinh tế số đạt giá trị 36 tỷ USD năm 2024 và đặt mục tiêu chiếm 30% GDP vào năm 2030. Trong đó, Nghị quyết 57-NQ/TW –Nghị quyết đầu tiên trong 9 Nghị quyết chuyên đề/hành động của Bộ Chính trị đã chỉ rõ “làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Điều đó cho thấy sự quan trọng và tính cấp thiết trong việc gia tăng giá trị dữ liệu trong nền kinh tế. Có thể nói, Việt Nam đang đứng trước "thời điểm vàng" để phát triển kinh tế dữ liệu”, ông Chính quả quyết.
Ông Chính cũng thông tin thêm, điểm đặc biệt là mô hình này có khả năng tạo ra giá trị theo cấp số nhân. Không giống như tài nguyên hữu hình, dữ liệu có đặc tính tái sử dụng vô hạn. Khi được tôi luyện qua các thuật toán AI tự chủ, dữ liệu thô sẽ được chuyển hóa thành tri thức chuyên sâu, cùng các sản phẩm và dịch vụ số với chi phí biên gần như bằng 0, từ đó xác lập lợi thế cạnh tranh vượt trội và tạo bước bứt phá cho nền kinh tế quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Các đại biểu tại Diễn đàn thống nhất cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới, Việt Nam cần có cách tiếp cận mới trong xác lập mô hình phát triển quốc gia một các xuyên suốt và đồng bộ, trong đó phải coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột cốt lõi; đồng thời cần bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa đổi mới thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, thúc đẩy liên kết vùng và phát huy vai trò của các chủ thể kinh tế, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời đầu tư xứng tầm cho văn hoá - di sản và đảm bảo môi trường sinh thái.
Từ khóa: mô hình phát triển, mô hình phát triển,động lực tăng trưởng, kinh tế việt nam, phát triển đất nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng tăng trưởng, tạo lập động lực, nền tảng trụ cột, giai đoạn tăng trưởng cao,quyết sách
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: nguyễn quỳnh/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN