Giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế: Cần rộng tay hơn
Cập nhật: 1 giờ trước
VOV.VN - Đề xuất cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân được kỳ vọng giúp giảm gánh nặng tài chính cho người lao động. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, mức giảm trừ vẫn còn thấp so với chi phí thực tế, đồng thời đề xuất cần mở rộng và “rộng tay” hơn để chính sách phát huy hiệu quả.
Tại dự thảo Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Bộ Tài chính đề xuất mức giảm trừ chi phí y tế và giáo dục - đào tạo đối với người lao động có thu nhập từ tiền lương, tiền công trước khi tính thuế. Theo đó, ngoài mức giảm trừ gia cảnh hiện hành 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc, người nộp thuế sẽ được trừ thêm các khoản chi y tế, giáo dục phát sinh cho cả bản thân và người phụ thuộc.
Dự thảo đưa ra hai phương án. Phương án 1 quy định mức giảm trừ tối đa 20 triệu đồng/năm với chi y tế và 21 triệu đồng/năm với giáo dục - đào tạo. Phương án 2 nâng mức này lên lần lượt 23 triệu đồng/năm và 24 triệu đồng/năm, tương ứng tổng mức giảm trừ tối đa 47 triệu đồng/năm.Dự kiến nếu được thông qua, quy định này sẽ áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026, bao gồm cả các khoản chi phát sinh từ đầu năm nếu đáp ứng đủ điều kiện.
Ngay sau khi đưa ra, đề xuất này được rất nhiều người lao động quan tâm bởi lần đầu tiên chi phí y tế và giáo dục được đưa vào cơ chế giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, không ít ý kiến cho rằng, mức giảm trừ dự kiến vẫn chưa phản ánh đúng chi phí thực tế.
Chị Nguyễn Hoài Phương (phường Đống Đa, TP. Hà Nội) cho biết, chị khá kỳ vọng khi nghe đề xuất cho phép giảm trừ chi phí giáo dục và y tế khi tính thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ, chị nhận thấy mức giảm trừ tối đa 20 - 23 triệu đồng/năm cho y tế và 21 - 24 triệu đồng/năm cho giáo dục vẫn còn khá thấp so với thực tế.
"Tôi có hai con đang học tiểu học. Tiền học bán trú, học thêm tiếng Anh, kỹ năng mềm mỗi tháng khoảng 6–7 triệu đồng. Nếu tính cả năm học thì chi phí ít nhất cũng hơn 60 triệu đồng. Trong khi đó, mức giảm trừ tối đa cho giáo dục chưa tới 24 triệu đồng/năm thì thực tế hỗ trợ không đáng kể", chị Phương chia sẻ.
Theo chị, quy định giảm trừ nên tính theo số lượng con hoặc theo chi phí thực tế để đảm bảo phù hợp hơn với nhu cầu của các gia đình có nhiều người phụ thuộc.
"Chi phí nuôi con hiện nay rất cao, đặc biệt là ở thành phố lớn như Hà Nội, nếu chỉ áp dụng mức chung cho tất cả trường hợp thì chưa phản ánh đúng thực tế đời sống của người lao động", chị Phương đề xuất.
Tương tự, anh Trần Minh Hải (phường Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội) cũng bày tỏ băn khoăn về cách tính mức giảm trừ chi phí y tế và giáo dục. Theo anh, hiện dự thảo chưa làm rõ mức giảm trừ được áp dụng cho người nộp thuế hay bao gồm cả người phụ thuộc.
"Tôi đang nuôi bố mẹ già và một con nhỏ. Riêng chi phí khám chữa bệnh cho bố mẹ mỗi năm cũng mất khoảng 30 - 40 triệu đồng. Nếu mức giảm trừ chỉ áp dụng cho bản thân người nộp thuế thì gần như không có ý nghĩa nhiều với những gia đình có người phụ thuộc", anh Hải nói.
Anh Hải cho rằng, trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng tăng, việc mở rộng giảm trừ cho cả người phụ thuộc sẽ giúp giảm áp lực tài chính cho người lao động.
"Nếu được giảm trừ thêm các chi phí y tế, giáo dục cho cả người phụ thuộc thì người lao động sẽ bớt gánh nặng, đồng thời cũng khuyến khích các gia đình mạnh dạn sinh con và chăm sóc người già tốt hơn", anh Hải nêu quan điểm.
Ở góc độ chuyên gia, nhiều ý kiến cho rằng đề xuất này là bước tiến trong điều chỉnh chính sách thuế theo hướng phù hợp hơn với thực tế đời sống. Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng, đề xuất điều chỉnh liên quan đến thuế thu nhập cá nhân lần này cho thấy nỗ lực tái định vị vai trò của chính sách thuế, không chỉ dừng ở chức năng thu ngân sách mà còn trở thành công cụ điều tiết hành vi và hỗ trợ phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế chuyển đổi.
Theo ông Huy, việc cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục – đào tạo với tổng mức tối đa 47 triệu đồng/năm từ kỳ tính thuế 2026 thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy “đánh thuế trên danh nghĩa” sang “đánh thuế trên khả năng thực”.
“Chi tiêu cho y tế và giáo dục không đơn thuần là tiêu dùng mà là khoản đầu tư dài hạn cho chất lượng nguồn nhân lực. Việc đưa hai yếu tố này vào cơ chế giảm trừ là hợp lý, đồng thời giúp hệ thống thuế tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế”, ông Huy đánh giá.
Tuy nhiên, ông Huy cũng cho rằng, mức 47 triệu đồng cần đặt trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng tăng, đặc biệt tại các đô thị lớn. Với nhóm lao động có thu nhập trung bình và khá, mức giảm trừ này có ý nghĩa nhất định nhưng chưa chắc đã phản ánh đầy đủ chi phí thực tế, nhất là khi gia đình có con theo học các chương trình giáo dục chất lượng cao hoặc phát sinh chi phí y tế ngoài phạm vi bảo hiểm. Trong khi đó, với nhóm thu nhập thấp, khả năng hưởng lợi từ chính sách lại hạn chế do nghĩa vụ thuế không lớn, dẫn đến hiệu ứng phân bổ chưa thực sự cân bằng.
“Tính hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào con số tuyệt đối mà còn nằm ở cách thiết kế cơ chế thực thi. Nếu thủ tục chứng minh chi phí phức tạp, thiếu đồng bộ, người nộp thuế sẽ gặp khó khăn trong tiếp cận. Ngược lại, nếu triển khai theo hướng số hóa, liên thông dữ liệu giữa cơ sở y tế, giáo dục và cơ quan thuế thì chính sách không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch”, ông Nguyễn Quang Huy phân tích.
Theo ông Huy, về dài hạn, chính sách này gửi đi thông điệp khuyến khích đầu tư vào vốn con người – một trụ cột quan trọng của tăng trưởng bền vững. Khi người dân cảm nhận rõ các khoản chi thiết yếu được chia sẻ thông qua chính sách thuế, niềm tin vào hệ thống cũng sẽ được củng cố tích cực hơn.
Ở góc nhìn khác, TS. Nguyễn Ngọc Tú, chuyên gia thuế, giảng viên Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cho rằng, mức giảm trừ theo dự thảo vẫn còn thấp so với thực tế, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục khi chi phí đầu tư cho con cái ngày càng lớn.
“Đối với chi phí y tế, nên chia thành hai nhóm. Thứ nhất là nhóm bệnh hiểm nghèo theo danh mục của Bộ Y tế, nên cho phép được trừ toàn bộ chi phí thực tế theo hóa đơn, chứng từ. Đây là trường hợp liên quan đến tính mạng, mang tính an sinh xã hội nên cần được hỗ trợ tối đa. Thứ hai là nhóm bệnh thông thường, có thể áp dụng mức giảm trừ tối đa khoảng 4 triệu đồng/tháng, tương đương khoảng 50 triệu đồng/năm, nhằm chia sẻ một phần chi phí giữa Nhà nước và người dân”, ông Tú đề xuất.
Đối với chi phí giáo dục, TS. Nguyễn Ngọc Tú đề xuất mức giảm trừ tối đa khoảng 5 triệu đồng/tháng, tương đương 60 triệu đồng/năm, phù hợp với định hướng giáo dục là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho tương lai.
Về lâu dài, ông kiến nghị nên cho phép giảm trừ chi phí y tế và giáo dục theo thực tế, dựa trên hóa đơn, chứng từ hợp lệ khi điều kiện ngân sách cho phép. Đồng thời, chính sách cũng cần mở rộng phạm vi áp dụng, bao gồm cả chi phí học tập và chữa bệnh trong và ngoài nước, tránh bó hẹp trong phạm vi trong nước.
“Cần mở rộng khái niệm học tập theo hướng học tập suốt đời, bao gồm các khóa học kỹ năng, nghệ thuật, thể chất như học ngoại ngữ, âm nhạc, thể thao, kỹ năng mềm… nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đời sống người dân”, vị chuyên gia bày tỏ.
Từ khóa: giảm trừ, Giảm trừ chi phí y tế, Giảm trừ chi phí giáo dục, thuế thu nhập cá nhân, giảm trừ gia cảnh, cách tính thuế thu nhập cá nhân
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: cẩm tú/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN