Đưa trường nghề về địa phương: Đổi đầu mối nhưng chưa đủ
Cập nhật: 39 phút trước
Rà soát chương trình, sách giáo khoa: Quan trọng là phải lựa chọn đúng đội ngũ
Cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang: 5 gói thầu xây đường cần tăng tốc về đích
VOV.VN - Đưa quản lý giáo dục nghề nghiệp về địa phương là cơ hội gắn đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động. Tuy nhiên, thay đổi đầu mối quản lý chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng đội ngũ đủ chuyên môn, cơ chế phối hợp thực chất và quyền tự chủ gắn với trách nhiệm chất lượng của các trường nghề.
Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp diễn ra cùng quá trình sắp xếp trường nghề, tinh gọn bộ máy. Tuy nhiên, giao thêm thẩm quyền không đồng nghĩa với việc địa phương đã có đủ điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ. Không ít công chức Sở GDĐT trưởng thành từ giảng dạy, quản lý trường phổ thông.
Kinh nghiệm ấy quýnhưng không tự nó bảo đảm khả năng xử lý những yêu cầu đặc thù của GDNN, từ quản lý chương trình đào tạo, thiết bị thực hành đến bảo đảm chất lượng. Dù chưa có khảo sát toàn diện, nguy cơ thiếu hụt chuyên môn cần được tính đến ngay trong quá trình phân cấp.
Trường phổ thông trang bị học vấn và năng lực nền tảng. Trường nghề còn phải giúp người học làm được việc, nâng cao kỹ năng khi nghề nghiệp thay đổi. Người học có thể là thanh thiếu niên sau lớp 9, người tốt nghiệp THPT hay lao động cần chuyển nghề; cách tổ chức đào tạo vì thế phải linh hoạt, kể cả khóa ngắn hạn.
Ở trường nghề, chương trình là “xương sống” chi phối đội ngũ, nhà xưởng, thiết bị, tài chính và quan hệ doanh nghiệp. Mở nghề cơ điện tử không thể chỉ thêm mã ngành, giáo trình mà phải xác định chuẩn năng lực, thiết bị, nơi thực tập và cách đánh giá tay nghề. Công nghệ thay đổi, trường phải cập nhật chương trình, bồi dưỡng giáo viên và đầu tư thiết bị; những việc này đòi hỏi hiểu biết về sản xuất.
Ít trường nghề có đủ nguồn lực cập nhật thiết bị như doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp cần tham gia xây dựng chương trình, cho sử dụng thiết bị, hướng dẫn thực hành và đánh giá kỹ năng. Tuyển sinh phụ thuộc vào triển vọng nghề nghiệp: người tốt nghiệp khó tìm việc phù hợp sẽ ảnh hưởng đến uy tín, nguồn tuyển và khả năng phát triển của trường. Đầu ra không tốt thì đầu vào khó bền vững.
Những khác biệt ấy đặt ra yêu cầu riêng cho quản lý nhà nước. Cơ sở GDNN được tự chủ chuyên môn theo pháp luật, nhưng cơ quan quản lý vẫn tham mưu chính sách, sắp xếp mạng lưới, phân bổ nguồn lực và giám sát chất lượng. Thiếu hiểu biết về đào tạo nghề có thể dẫn đến chỉ đạo không phù hợp, đầu tư dàn trải hoặc yêu cầu hành chính không cần thiết. Môi trường phổ thông vận hành trên chương trình quốc gia tương đối ổn định trong khi GDNN phải đáp ứng biến động kỹ năng và công nghệ. Kinh nghiệm quản lý phổ thông vì vậy không thể mặc nhiên thay thế năng lực quản lý GDNN.
Bộ GD&ĐT cần xây dựng chuẩn năng lực cho công chức quản lý nhà nước về GDNN, nhất là đội ngũ phòng GDNN và GDTX thuộc các Sở GD&ĐT. Chuẩn bao quát phân tích nhu cầu kỹ năng, hiểu biết về đào tạo theo năng lực nghề, bảo đảm chất lượng, quản lý nguồn lực và quan hệ doanh nghiệp. Từ đó, địa phương đánh giá năng lực, bố trí người am hiểu GDNN và bồi dưỡng đúng những khoảng trống chuyên môn.
Công chức xuất thân từ giáo dục phổ thông có thể đảm nhiệm tốt nếu được chuẩn bị phù hợp. Cần tận dụng người từng quản lý GDNN và được bồi dưỡng qua tình huống thực tế, khảo sát doanh nghiệp, thẩm định thiết bị, phân tích dữ liệu việc làm. Bồi dưỡng cần thực hiện thường xuyên, có đánh giá kết quả, thay vì chỉ phổ biến văn bản.
Không thể kỳ vọng quản lý nhà nước hiệu quả nếu người thực thi chưa hiểu GDNN; bộ máy được giao khơi thông nguồn lực có thể lại tạo ra những nút thắt mới. Sở GD&ĐT còn phải chủ động phối hợp với các sở, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp, tham mưu UBND tỉnh hình thành các hội đồng kỹ năng nghề theo ngành, lĩnh vực. Thông qua đó, nhu cầu nhân lực và kỹ năng được xác định, cập nhật để định hướng mạng lưới, đặt hàng đào tạo và hỗ trợ các trường phát triển chương trình sát thực tế. Chính quyền tập trung hoạch định chính sách, đầu tư và giám sát kết quả; cơ sở GDNN phát huy quyền tự chủ, chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo.
Sắp xếp mạng lưới là dịp nghiên cứu hình thành các cơ sở đào tạo kỹ thuật đủ mạnh ở đô thị lớn. Có thể kết hợp ba, bốn trường có ngành nghề bổ trợ nhau thành một tổ chức đa địa điểm, dùng chung chiến lược, bộ máy hỗ trợ và thiết bị đắt tiền, đồng thời phân quyền cho các khoa, xưởng. ITE Singapore với hệ thống ba trường thành viên gợi mở cách quản trị thống nhất và gắn kết doanh nghiệp, không phải khuôn mẫu để sao chép. Các thành phố lớn cần mạnh dạn tận dụng cơ hội sắp xếp để hình thành những hệ sinh thái đào tạo nghề đủ mạnh, có khả năng thu hút doanh nghiệp cùng đầu tư và phát triển kỹ năng. Đây có thể là bước chuyển quan trọng, tạo sức bật mới cho GDNN.
Mô hình này có thể giúp giảm các đầu mối hành chính trùng lặp, nhưng phải tránh sáp nhập cơ học, tạo thêm tầng quản lý hoặc cắt giảm máy móc giáo viên thực hành. Người đứng đầu phải hiểu GDNN, thị trường lao động, quản trị nguồn lực và có khả năng dẫn dắt các đơn vị với văn hóa tổ chức khác nhau. Thành tích quản lý trường cũ chưa đủ để bảo đảm năng lực ấy.
Hiệu quả sắp xếp cần được đánh giá bằng năng lực người tốt nghiệp, chất lượng việc làm, phản hồi doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn lực, chứ không chỉ bằng số trường giảm được. Phân cấp đưa GDNN đến gần thực tiễn hơn, còn sắp xếp mạng lưới phải giúp trường nghề mạnh hơn. Nếu chỉ thay đổi đầu mối mà không nâng cao năng lực quản lý nhà nước và tạo điều kiện cho trường nghề phát huy quyền tự chủ, chất lượng đào tạo khó có chuyển biến thực chất.
Từ khóa: trường nghề, VOV, giáo dục nghề nghiệp, quản lý trường nghề, phân cấp quản lý, tự chủ trường nghề, đào tạo nghề, thị trường lao động
Thể loại: Xã hội
Tác giả: ts. hoàng ngọc vinh
Nguồn tin: VOVVN