Doanh nghiệp cần gì để tham gia chuỗi cung ứng công nghiệp ô tô?
Cập nhật: 6 ngày trước
VOV.VN - Nhiều doanh nghiệp chế tạo và công nghiệp ô tô Việt vẫn gặp khó khăn khi tham gia những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng nội địa hoá công nghiệp. Việc hình thành các doanh nghiệp đầu tàu, tạo thị trường ổn định và hỗ trợ nhà cung cấp nâng cấp công nghệ được xem là hướng đi quan trọng.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển công nghiệp hỗ trợ không còn đơn thuần là câu chuyện tăng số lượng doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng lắp ráp ô tô. Quan trọng hơn là từng bước nâng cao năng lực công nghệ, chủ động nguồn cung và gia tăng tỷ lệ giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra.
Dù Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị của nhiều doanh nghiệp nội địa vẫn còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp mới đảm nhận những công đoạn gia công, sản xuất chi tiết đơn giản, trong khi các khâu thiết kế, công nghệ cốt lõi và sản xuất linh kiện có hàm lượng kỹ thuật cao vẫn phụ thuộc đáng kể vào doanh nghiệp nước ngoài.
Theo số liệu Cục Thống kê hiện kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 đạt 475,04 tỷ USD. Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77,3%, còn khu vực kinh tế trong nước chiếm 22,7%.
Cơ cấu này cho thấy khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò lớn trong hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu không đồng nghĩa trực tiếp với tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa. Vấn đề cần xem xét sâu hơn là doanh nghiệp Việt Nam đang giữ vị trí nào trong chuỗi sản xuất và có khả năng tham gia những khâu tạo ra giá trị cao đến đâu.
PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn Nguyên Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chỉ ra rằng, hiện vẫn luôn tồn tại một số hạn chế của công nghiệp hỗ trợ như quy mô doanh nghiệp nhỏ, năng lực tự động hóa và quản trị còn yếu, khó đáp ứng đồng thời các yêu cầu về sản lượng, chất lượng và thời gian giao hàng của các tập đoàn lớn.
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương trong năm 2025, Việt Nam có khoảng 5.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, trong đó gần 88% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng tự động hóa được nêu ở mức khoảng 10%.
Những hạn chế này khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư vào dây chuyền hiện đại, nghiên cứu phát triển sản phẩm hoặc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của ngành công nghiệp ô tô, điện tử và cơ khí chính xác.
Vấn đề đặt ra không chỉ là doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư, mà còn thiếu thị trường đủ lớn, đơn hàng đủ ổn định và cơ chế liên kết dài hạn để mạnh dạn nâng cấp năng lực sản xuất.
Nghị quyết số 19-NQ/TW (ban hành ngày 28/7/2026 tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV) xác định doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp tạo ra giá trị và giữ vai trò trung tâm của quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước. Cần có những doanh nghiệp đầu tàu là hạt nhân kiến tạo để kéo theo các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghiệp bền vững trong bối cảnh hiện nay.
PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn phân tích, tại Nghị quyết 19-NQ/TW chỉ ra việc cần phải phát triển doanh nghiệp đầu chuỗi và hệ sinh thái công nghiệp có sức cạnh tranh cao, thúc đẩy liên kết với DNNVV, viện nghiên cứu và trường đại học. Phát triển doanh nghiệp đầu tàu không đơn thuần nhằm hình thành những tập đoàn có quy mô lớn, mà quan trọng là tạo ra khả năng tổ chức, kết nối và nâng cấp năng lực cho cả mạng lưới doanh nghiệp.
Cũng theo tinh thần của Nghị quyết 19 thì doanh nghiệp đầu tàu không tăng trưởng theo chiều rộng (dựa vào vốn hay tài nguyên thô), mà phải chuyển sang mô hình dựa trên khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Doanh nghiệp đầu tàu có thể mở thị trường, tạo đơn hàng, thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật, đồng thời hỗ trợ các nhà cung cấp tham gia sâu hơn vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao. Khi đó, tăng trưởng của một doanh nghiệp lớn mới có điều kiện chuyển hóa thành tăng trưởng và năng suất của cả chuỗi cung ứng.
Tại Hội nghị Tăng cường Nội địa hóa và Phát triển Hệ thống Nhà cung cấp 2026 diễn ra ở Hà Nội, Vingroup cũng đã công bố các chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của tập đoàn.
Bà Thái Thị Thanh Hải, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup kiêm Phó Chủ tịch VinFast toàn cầu, công bố chính sách đặc biệt dành cho các doanh nghiệp hỗ trợ tham gia chuỗi cung ứng của Tập đoàn, bao gồm: Ưu đãi 50% tiền thuê đất trong 3 năm đầu và 30% trong 5 năm tiếp theo cho các đối tác đặt nhà máy tại các khu công nghiệp của Vinhomes và VinFast, đồng thời chia sẻ hạ tầng logistics và hệ thống cảng biển nước sâu. Vingroup cũng cam kết bảo đảm đầu ra ổn định cho nhà cung cấp thông qua việc công khai kế hoạch sản xuất, cung cấp dự báo sản lượng luân phiên từ 12 đến 24 tháng và ký thỏa thuận khung dài hạn; hỗ trợ kết nối, thúc đẩy năng lực sản xuất…
Mục tiêu của Vingroup là chung tay cùng các doanh nghiệp đẩy mạnh nội địa hóa, nâng cao giá trị Việt trong chuỗi cung ứng, từng bước đưa Việt Nam thành trung tâm sản xuất và công nghiệp hỗ trợ hàng đầu khu vực.
Các nhà cung cấp Việt Nam cũng được giới thiệu cơ hội tham gia cung ứng cho hoạt động sản xuất của VinFast tại Ấn Độ và Indonesia.
Một số doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng ô tô đã ghi nhận sự thay đổi rõ rệt về quy mô hoạt động và năng lực sản xuất khi tham gia các dự án công nghiệp lớn.
Theo bà Hồ Thị Nga, Phó Tổng Giám đốc Weldcom, trước năm 2018, doanh nghiệp chủ yếu cung cấp thiết bị và dịch vụ gia công kim loại, lấy công nghệ hàn làm nền tảng. Sau khi tham gia các dự án ô tô, doanh nghiệp từng bước mở rộng sang thiết kế, tích hợp và triển khai dây chuyền sản xuất thân vỏ ô tô.
Đến nay, Weldcom đã tham gia các dự án tại Hải Phòng, Hà Tĩnh và mở rộng hoạt động sang Ấn Độ, Indonesia.
“Weldcom tập trung ba yếu tố: đầu tư con người, đầu tư R&D và đầu tư nhà máy. Hiện nay, đội ngũ kỹ sư cao cấp của chúng tôi không chỉ làm chủ công nghệ dây chuyền thân vỏ ô tô mà có thể làm chủ mọi dây chuyền liên quan đến gia công tấm mỏng (sheet metal) và cơ khí chính xác. Chúng tôi định vị là một công ty kỹ thuật và công nghệ" - bà Hồ Thị Nga chia sẻ thêm về chiến lược đầu tư phát triển trọng tâm trong thời gian tới.
Đáng chú ý, doanh nghiệp cho biết hiện đã đảm nhận việc triển khai dây chuyền thân vỏ ô tô tại Hải Phòng với hơn 200 robot. Đây là bước chuyển đáng kể từ một đơn vị cung cấp thiết bị sang đảm nhận vai trò tổng thầu tích hợp hệ thống sản xuất.
Tuy nhiên, theo đại diện doanh nghiệp, cơ hội mở rộng sản xuất cũng đi kèm áp lực lớn về tiến độ, chất lượng và nguồn nhân lực kỹ thuật.
"Cái khó đầu tiên là tiêu chuẩn kỹ thuật VinFast đặt ra rất cao. Thứ hai là yêu cầu về tiến độ, đòi hỏi nhà thầu phải có năng lực thực thi rất mạnh. Thứ ba là yêu cầu về chất lượng" - bà Nga chia sẻ.
Theo ông Lương Đức Thụ, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Automech, từ doanh nghiệp chuyên cung cấp máy móc gia công cơ khí, Automech đã mở rộng sang sản xuất linh kiện và cụm linh kiện ô tô, với ba nhà máy và hơn 1.000 nhân sự.
Doanh thu của doanh nghiệp được ông Thụ cho biết đạt 1.500 tỷ đồng năm 2025, dự kiến tăng lên 2.000 tỷ đồng trong năm 2026. Đáng chú ý, doanh nghiệp đã đạt chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ngành ô tô IATF 16949.
Theo ông Thụ, sự thay đổi không chỉ nằm ở doanh thu hay số lượng nhà máy, mà còn là việc hình thành đội ngũ kỹ thuật và hệ thống quản trị đáp ứng tiêu chuẩn ngành ô tô.
Ông Dương Minh Hải, Giám đốc cấp cao Kimsen Industrial Corporation, nhìn nhận giá trị lớn nhất từ quá trình tham gia chuỗi cung ứng là sự thay đổi về năng lực công nghệ. Từ hoạt động sản xuất theo bản vẽ có sẵn, Kimsen đang từng bước tham gia sớm hơn vào quá trình thiết kế, đánh giá tính khả thi của sản phẩm và tối ưu quy trình sản xuất.
Theo ông Hải, đây là tiền đề để doanh nghiệp xây dựng đội ngũ nghiên cứu và phát triển, hướng đến cung cấp giải pháp kỹ thuật thay vì chỉ gia công những chi tiết riêng lẻ.
Các trường hợp trên cho thấy một cơ hội đáng chú ý: Khi có thị trường tiêu thụ đủ lớn cùng những yêu cầu kỹ thuật cụ thể, doanh nghiệp trong nước có thêm động lực đầu tư vào công nghệ, nhân lực và quản trị.
Tuy nhiên, những kết quả do doanh nghiệp tự công bố cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục đánh giá mức độ tự chủ công nghệ, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và khả năng tìm kiếm khách hàng độc lập, thay vì chỉ dựa trên mức tăng doanh thu.
Mặc dù mở ra những cơ hội đáng kể, việc tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn không phải con đường dễ dàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, không thể nội địa hóa bằng những đơn hàng ngắn hạn.
Thách thức đầu tiên là nguồn vốn. Để sản xuất linh kiện đạt tiêu chuẩn quốc tế, doanh nghiệp phải đầu tư máy móc, thiết bị kiểm định, hệ thống quản lý chất lượng và nhân lực kỹ thuật. Trong khi đó, thời gian thu hồi vốn có thể kéo dài, phụ thuộc vào quy mô đơn hàng và khả năng duy trì hợp đồng.
Thách thức thứ hai là năng lực công nghệ. Không ít doanh nghiệp có thể đảm nhận công đoạn gia công nhưng chưa đủ khả năng thiết kế sản phẩm, phát triển vật liệu, nghiên cứu công nghệ hoặc tích hợp hệ thống sản xuất.
Thứ ba là nguy cơ phụ thuộc quá lớn vào một khách hàng. Tỷ trọng lớn giúp tạo ra quy mô sản xuất cao nhưng cũng có thể làm gia tăng rủi ro nếu kế hoạch đầu tư, sản lượng hay nhu cầu thị trường thay đổi.
Trong bối cảnh đổi mới mô hình phát triển, yêu cầu xây dựng các doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt thị trường, tổ chức chuỗi cung ứng và thúc đẩy đổi mới công nghệ ngày càng trở nên cấp thiết.
Tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, cùng định hướng được đề cập trong báo cáo chuyên đề về Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa, thúc đẩy liên kết sản xuất và hình thành những chuỗi giá trị có sức cạnh tranh.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, sự chủ động của các doanh nghiệp lớn là cần thiết nhưng chưa đủ. Trước hết, cần phát triển những cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ đổi mới công nghệ. Những đơn hàng có tính ổn định, hợp đồng rõ ràng và dự báo nhu cầu minh bạch có thể giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng.
Một vấn đề khác là cần xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả nội địa hóa bằng những chỉ tiêu thực chất. Thay vì chỉ công bố số lượng nhà cung cấp hay tỷ lệ linh kiện được mua trong nước, cần quan tâm đến giá trị gia tăng nội địa, mức độ làm chủ công nghệ, năng suất lao động và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Việt Nam.
Đối với các doanh nghiệp đầu tàu, việc hỗ trợ nhà cung cấp nâng cao năng lực cần được xem là chiến lược phát triển dài hạn, gắn với lợi ích của toàn bộ chuỗi sản xuất.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cũng phải chủ động đầu tư, chuẩn hóa quản trị và đa dạng hóa khách hàng, tránh tâm lý trông chờ vào những chính sách ưu đãi hoặc đơn hàng từ một tập đoàn.
Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ không thể chỉ dừng ở việc các tập đoàn lớn, “doanh nghiệp đầu tầu” tăng tỷ lệ mua hàng từ doanh nghiệp trong nước. Quan trọng hơn, nhà cung cấp cần có khả năng từng bước phát triển khách hàng ngoài hệ sinh thái ban đầu, tạo ra sản phẩm và công nghệ có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Sự phát triển của một nền công nghiệp hiện đại không chỉ được đo bằng quy mô nhà máy hay sản lượng sản phẩm cuối cùng, mà còn bằng khả năng hình thành mạng lưới doanh nghiệp nội địa đủ sức cạnh tranh, sáng tạo và tự chủ về công nghệ.
Những chuyển động trong phát triển chuỗi cung ứng ô tô và công nghiệp hỗ trợ thời gian qua là tín hiệu tích cực. Song, nội địa hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp Việt Nam tiến xa hơn khỏi vai trò gia công, tham gia trực tiếp vào các công đoạn tạo giá trị và có đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Từ khóa: công nghiệp ô tô, ô tô,Doanh nghiệp, công nghiệp ô tô, thị trường ô tô, công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp ô tô, vinfast, tỷ lệ nội địa hóa ô tô,chuỗi cung ứng công nghiệp ô tô Việt,nghị quyết 68, nghị quyết 19
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: tuệ minh/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN