Cổ phần hóa, thoái vốn chậm trễ, do đâu?

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước nêu rõ, tiếp tục thực hiện lộ trình cổ phần hoá để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Tuy nhiên, những năm qua công tác này thường chậm trễ, kéo dài và không hoàn thành mục tiêu đề ra.

Phóng viên Báo Điện tửTiếng nói Việt Namđã có cuộc trao đổi với PGS. TS Lê Đức Hoàng, Trưởng Bộ môn Tài chính Doanh nghiệp, Viện Ngân hàng Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân để làm rõ vấn đề này.

PV: Xin cảm ơn PGS đã nhận lời mời phỏng vấn của chúng tôi. Ông có thể cho biết một số kết quả về công tác cổ phần hóa, thoái vốn DNNN và nguyên nhân nào dẫn đến việc này bị chậm trễ, kéo dài?

PGS. TS Lê Đức Hoàng:Theo báo cáo của Bộ Tài chính, giai đoạn trước 2020, nhiều DNNN trong các lĩnh vực bảo hiểm, xây dựng, hạ tầng, thương mại và dịch vụ đã được cổ phần hóa, thoái vốn, một số doanh nghiệp đã hoạt động hiệu quả hơn, doanh thu và lợi nhuận tăng, quản trị doanh nghiệp được cải thiện theo hướng minh bạch, phù hợp với chuẩn mực thị trường. Giai đoạn 2023-2025, mục tiêu đề ra là tiến hành cổ phần hóa 30 DNNN, với tổng giá trị dự kiến thu về khoảng 36.823 tỷ đồng. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện chưa đạt được như kỳ vọng, cụ thể trong các năm 2023, 2024 và đến hết Quý I/2025 vẫn chưa có doanh nghiệp nào hoàn tất quá trình cổ phần hóa.

Nói về nguyên nhân, tôi cho rằng nguyên nhân căn cơ là do cơ chế quản lý vốn nhà nước; tâm lý e ngại trách nhiệm của người thực thi là nguyên nhân cốt lõi, vì cổ phần hóa, thoái vốn liên quan trực tiếp đến tài sản và vốn nhà nước, nếu việc định giá doanh nghiệp, bán cổ phần hoặc chuyển nhượng vốn không đúng quy định, người thực hiện có thể bị quy trách nhiệm về thất thoát tài sản công và vướng vào vòng lao lý. Trong bối cảnh các quy định pháp luật về định giá, đất đai và tài sản công còn phức tạp, dễ phát sinh tranh chấp, nhiều người có xu hướng chọn cách trì hoãn hoặc xử lý rất thận trọng để tránh rủi ro pháp luật, điều này làm cho các quyết định quan trọng về cổ phần hóa bị kéo dài.

Cơ chế quản lý vốn nhà nước chưa hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường cũng làm quá trình này trở nên chậm. Việc định giá DNNN thường rất phức tạp, cần bảo đảm không làm thất thoát vốn nhà nước, vì vậy quá trình kiểm kê, định giá và phê duyệt thường bị kéo dài. Bên cạnh đó, hệ thống pháp lý và thủ tục hành chính còn phức tạp, quá trình cổ phần hóa phải tuân thủ nhiều quy định liên quan đến tài chính, đất đai, đầu tư và quản lý vốn nhà nước, sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật và quy trình phê duyệt nhiều cấp làm kéo dài thời gian thực hiện. Nhà nước vừa đóng vai trò cơ quan quản lý, vừa là chủ sở hữu vốn tại doanh nghiệp, sự chồng chéo này khiến quá trình cổ phần hóa phải qua nhiều khâu phê duyệt, chịu sự giám sát của nhiều cơ quan khác nhau. Nếu vấn đề trách nhiệm và cơ chế quản lý vốn không được giải quyết, dù có cải thiện quy định về định giá hay thủ tục hành chính, thì cổ phần hóa, thoái vốn DNNN vẫn có nguy cơ tiếp tục chậm trễ.

PV: Có ý kiến cho rằng, để cổ phần hóa, thoái vốn DNNN không bị trì hoãn, kéo dài, cần có “cơ chế không hồi tố” đối với các quyết định đã được thực hiện đúng quy định tại thời điểm ban hành. Quan điểm của ông như thế nào về vấn đề này?

PGS. TS Lê Đức Hoàng: Cơ chế không hồi tố” có nghĩa là các quyết định về cổ phần hóa, thoái vốn hoặc định giá doanh nghiệp nếu đã được thực hiện đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm đó thì sẽ không bị xem xét lại hoặc áp dụng các quy định pháp luật mới để đánh giá đúng/sai trong tương lai. Ý kiến này xuất phát từ việc nhiều cán bộ, cơ quan thực hiện thường lo ngại rủi ro pháp lý về sau khi thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn, đặc biệt khi chính sách, quy định pháp luật thay đổi hoặc khi các cơ quan thanh tra, kiểm tra đánh giá lại các quyết định trước đây.

Hồi tố là vấn đề khá “nhạy cảm”, có thể nhìn trên 2 góc độ: Nếu cán bộ quản lý và cơ quan chức năng không quyết liệt, thì quá trình cổ phần hóa sẽ bị chậm, tuy nhiên cổ phần hóa, thoái vốn có thể làm gia tăng lợi ích nhóm, giảm hiệu quả chính sách của Nhà nước. Ở nhiều DNNN, lợi ích từ đất đai còn lớn hơn lợi ích do hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại, các nhóm lợi ích sẽ tranh thủ để hưởng quyền lợi cá nhân. Do vậy, đòi hỏi cơ chế quản lý phải trung thực và minh bạch ngay từ đầu, có nghĩa là khi thực hiện cổ phẩn hóa, thoái vốn, cần đưa ra công chúng và thị trường để quyết định. Trở lại câu chuyện hồi tố, tôi cho rằng sẽ làm giảm động lực thực thi của các bên thực hiện, bản thân họ sẽ không có động lực phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung.

PV: Tuy nhiên, việc không hồi tố cũng có 2 mặt vấn đề, đó là: Tạo tâm lý yên tâm khi thực hiện hoặc bị lợi dụng cơ chế để cố ý làm sai nhằm trục lợi. Vậy cần được kiểm soát chặt chẽ, nghiêm túc như thế nào thưa ông?

PGS. TS Lê Đức Hoàng:Việc áp dụng cơ chế không hồi tố có thể mang lại một số tác động tích cực. Thứ nhất, giảm tâm lý e ngại trách nhiệm của người thực thi, từ đó tạo điều kiện để các cơ quan và DNNN mạnh dạn hơn trong việc triển khai cổ phần hóa, thoái vốn. Thứ hai, giúp tăng tính ổn định và dự đoán của chính sách, vì các quyết định kinh tế được thực hiện theo khung pháp lý tại thời điểm đó sẽ được bảo đảm. Tuy nhiên, cơ chế không hồi tố cũng cần được áp dụng thận trọng và có điều kiện, chỉ bảo vệ những trường hợp thực hiện đúng quy định pháp luật và minh bạch. Đối với các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cố ý làm thất thoát tài sản nhà nước để trục lợi, cần được xem xét và xử lý theo quy định, kể cả phải tính đến trách nhiệm hình sự. “Cơ chế không hồi tố” cần được thiết kế hợp lý, để vừa bảo đảm hiệu quả thực hiện, vừa bảo vệ tài sản của Nhà nước.

PV: Trong giai đoạn hiện nay, cổ phần hóa, thoái vốn DNNN là việc cần làm ngay để thúc đẩy kinh tế Nhà nước, cần có những giải pháp căn cơ nào thưa ông?

PGS Lê Đức Hoàng:Thứ nhất, Nhà nước cần tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến cổ phần hóa, thoái vốn, đặc biệt là các quy định về định giá doanh nghiệp, giải quyết dứt điểm các vướng mắc liên quan đến đất đai, tài sản công và tài sản vô hình trước khi tiến hành cổ phần hóa. Thứ hai, cần tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện chức năng ban hành chính sách và giám sát, việc quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp cần được giao cho các cơ quan chuyên trách.

Thứ ba, xây dựng cơ chế pháp lý rõ ràng để bảo vệ cán bộ, người quản lý khi thực hiện đúng quy định, tránh tâm lý e ngại trách nhiệm. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm giải trình, xử lý nghiêm các trường hợp cố tình trì hoãn hoặc gây cản trở quá trình cổ phần hóa. Thứ tư, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả định giá doanh nghiệp. Việc định giá cần được thực hiện bởi các tổ chức tư vấn độc lập, áp dụng các phương pháp định giá hiện đại, công khai thông tin, nhằm bảo đảm khách quan, tránh thất thoát vốn nhà nước. Thứ năm, gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ thực hiện, cần có cơ chế đánh giá, kiểm tra và xem xét trách nhiệm đối với các cơ quan, doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn DNNN theo lộ trình đã đề ra.

PV:Trân trọng cảm ơn ông.

Từ khóa: chậm trễ, chậm trễ, doanh nghiệp, cổ phần hóa, thoái vốn, kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, nghị quyết 79

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: lê thanh-ctv phượng ngọc/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập