5 nhóm quan điểm mới trong kết luận của Trung ương về bảo vệ môi trường

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới đưa ra chỉ tiêu giai đoạn 2026-2030, tại các đô thị đặc biệt, tỷ lệ số ngày có chỉ số chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình đạt tối thiểu 80%. 

Sáng 29/7, Bộ Chính trị, Ban Bí thưtổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Tại hội nghị, đồng chí Phạm Gia Túc - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ báo cáo nội dung trọng tâm Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nhấn mạnh, bảo vệ môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến chất lượng phát triển đất nước, sức khỏe, tính mạng, tài sản và sinh kế của Nhân dân; đồng thời tác động sâu sắc đến năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ và vị thế quốc tế của Việt Nam trong những thập niên tới.

Sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện. Tuy nhiên, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận rằng môi trường và biến đổi khí hậu vẫn đang là những thách thức rất lớn.

Từ thực tiễn đó, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức hành động.

Bảo vệ môi trường là nền tảngcho chuyển đổi xanh, năng suất, sức cạnh tranh

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nêu 5 nhóm quan điểm mới tại Kết luậncủa Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm:

Thứ nhất, bảo vệ môi trường và ứng phó với biếnđổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, là nền tảngcho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh, là một động lực phát triển mới của nền kinh tế. Nguồn lực cho bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu phải được bảo đảm tương xứng vớiquy mô nền kinh tế và yêu cầu phát triển đất nước.

Thứ hai, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân. Đặt con người và chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở trung tâm của mọi quyết định phát triển; lấy việc bảo đảm môi trường sống an toàn,trong lành, bảo vệ sức khỏe, tính mạng, sinh kế của mọi người dân làm mục tiêu cao nhất. Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, vai trò kiến tạo của Nhà nước, đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp và cộng đồng.

Thứ ba, quy hoạch, định hướng phát triển tronggiới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường. Chuyển từtư duy ứng phó sang tư duy chủ động kiến tạo phát triển, từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và theo mức độ rủi ro, từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng.

Thứ tư, chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ,cảnh báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý các vấn đề bức xúc về môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên. Đẩy nhanh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng, chống thiên tai.

Thứ năm, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng, động lực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động, tích cực và tham gia có trách nhiệm các cơ chế hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề môi trường, khí hậu toàn cầu.

Đến năm 2030, các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng phải được tập trung xử lý

Trung ương cũng xác định mục tiêu đến năm 2030, năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai đượcnâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của Nhân dân.

Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được tập trung xửlý, khắc phục, chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện thựcchất; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái.

Các nguồn thải lớn phải được kiểm soát chặt chẽ,thúc đẩy phát triểnkinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng caochất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước.

Tầm nhìn đến năm 2045, đất nước ta có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên,phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại,thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Kinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp là phương thức phát triển chủđạo, bảo đảm mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Chỉ tiêu cụ thể về chất lượng không khí, xử lý chất thải

Để lượng hóa mục tiêu, Kết luận đã xác định một số chỉ tiêu chủyếu giai đoạn 2026 - 2030 như bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.

100% nguồn nước thải, khí thải lớn được quan trắc tựđộng, liên tục.Tại các đô thị đặc biệt, tỷ lệ số ngày có chỉ số chất lượng không khí ởmức tốt và trung bình đạt tối thiểu 80%.100% cụm công nghiệp có nước thải được xử lý đạt quychuẩn môi trường.Tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại Iđược thu gom, xử lý đạt quy chuẩn là 70%.

Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt 95%; ở khuvực nông thôn đạt 85%; tỷ lệ chôn lấp trực tiếp giảm xuống dưới 30%. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ở mức 42%. Diện tích khu bảo tồn biển, venbiển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.70% số hộ dân thuộc khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai có nhà ởan toàn; 80% hộ dân ở nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất được didời đến nơi an toàn.

Tỷ trọng kinh tế xanh đạt 10% GDP; tỷ lệ khu công nghiệp sinh tháiđạt 10%; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%.

Cả nước có ít nhất 1.200 công trình xanh được chứng nhận; phát thảikhí nhà kính quốc gia giảm ít nhất 9% so với kịch bản phát triển thôngthường.

Các chỉ tiêu này phải được coi là căn cứ để xây dựng kế hoạch, phân bổnguồn lực và đánh giá kết quả thực hiện của các bộ, ngành, địa phương.

Từ khóa: môi trường, VOV, không khí, ô nhiễm môi trường, chất lượng không khí, đô thị,xử lý chất thải, hội nghị trung ương 3,nghị quyết

Thể loại: Nội chính

Tác giả: nguyễn trang/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập