Việt Nam cần làm gì để trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2030?
Cập nhật: 1 giờ trước
VOV.VN - Với hàng nghìn km bờ biển và đảo lớn nhỏ, Việt Nam có dư địa lớn để phát triển kinh tế biển. Nhưng sức ép lên vùng ven bờ ngày càng gia tăng, trong khi biển xa, biển sâu đòi hỏi công nghệ cao hơn. Đây là bài toán đặt ra trong quá trình nâng cao giá trị kinh tế biển đến năm 2030.
Trong thời gian dài, phần lớn hoạt động kinh tế biển của Việt Nam tập trung ở khu vực ven bờ, từ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch đến cảng biển, đô thị và dịch vụ. Mô hình này tạo ra nguồn lực quan trọng cho nền kinh tế nhưng cũng bộc lộ giới hạn khi mật độ khai thác ngày càng cao. Nguồn lợi thủy sản gần bờ suy giảm, môi trường chịu sức ép, trong khi biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sạt lở tác động ngày càng rõ đến các khu vực ven biển.
Vì thế, Việt Nam phải tìm kiếm không gian phát triển mới, đồng thời tổ chức lại các hoạt động kinh tế biển theo hướng hiệu quả và bền vững hơn. Tại quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 chỉ rõ, thay vì mỗi ngành nhìn biển theo nhu cầu riêng thì cần có quy hoạch chung đặt hàng hải, thủy sản, du lịch, công nghiệp, năng lượng và bảo tồn trong một tổng thể.
Trả lời phỏng vấn Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng: “Phát triển kinh tế biển xa, biển sâu không chỉ là một lựa chọn mà đang trở thành yêu cầu tất yếu. Các vùng ven bờ hiện nay không chỉ chịu tác động từ đất liền mà còn là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người, khiến tài nguyên ngày càng suy giảm và suy thoái. Nếu muốn khai thác những nguồn tài nguyên có giá trị hàng hóa hơn, chúng ta buộc phải vươn ra xa hơn và xuống sâu hơn”.
Tuy nhiên, vươn ra xa không đơn thuần là đưa tàu lớn hơn ra biển. Biển xa và biển sâu có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, khoảng cách với đất liền lớn, chi phí đầu tư và yêu cầu an toàn cao. Công nghệ vì thế trở thành điều kiện quan trọng để mở rộng không gian phát triển.
Một con tàu có thể đi xa hơn nhưng nếu phía sau thiếu cảng cá, kho lạnh, dịch vụ hậu cần, chế biến và thị trường thì giá trị tạo ra vẫn hạn chế. Tương tự, mở rộng diện tích nuôi biển nhưng thiếu công nghệ kiểm soát môi trường, con giống, thức ăn và chuỗi tiêu thụ sẽ khó tạo thành ngành kinh tế có sức cạnh tranh.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh: "Chúng ta cũng phải thay đổi phương thức phát triển. Không thể tiếp tục vươn ra biển theo mô hình nhỏ lẻ, manh mún hay dựa vào những liên kết tự phát. Thay vào đó, cần tổ chức các lực lượng kinh tế biển theo quy mô lớn, có sự liên kết giữa doanh nghiệp, ngư dân, các trung tâm dịch vụ hậu cần và lực lượng thực thi pháp luật trên biển, hình thành hệ sinh thái phát triển và những liên kết chuỗi giá trị biển hiện đại”.
Hạ tầng là một trong những điều kiện then chốt. Các cảng nước sâu như Lạch Huyện ở Hải Phòng hay Cái Mép - Thị Vải đang góp phần kết nối Việt Nam với mạng lưới hàng hải quốc tế. Khi cảng biển được đặt trong hệ thống giao thông và logistics đồng bộ, lợi thế ven biển mới có thể chuyển thành lợi thế về thương mại và chuỗi cung ứng.
Cùng với đó, các tuyến giao thông ven biển mở rộng kết nối giữa địa phương ven biển với vùng sản xuất phía trong. Giá trị kinh tế biển vì vậy không chỉ được tạo ra trên mặt nước hay tại cảng mà kéo dài từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến vận tải và thị trường.
Tuy nhiên, mở rộng hoạt động kinh tế phải đi cùng bảo vệ nền tảng tự nhiên. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sạt lở, rác thải nhựa và suy giảm nguồn lợi thủy sản đặt ra yêu cầu thay đổi mô hình phát triển. Kinh tế tuần hoàn biển, phục hồi rừng ngập mặn và rạn san hô, nuôi biển bền vững hay phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi đều hướng tới mục tiêu tạo thêm giá trị nhưng giảm sức ép lên tài nguyên.
Công nghệ cũng ngày càng giữ vai trò quyết định, từ giám sát tàu cá, quản lý hoạt động trên biển, truy xuất nguồn gốc thủy sản đến nuôi biển công nghệ cao và nghiên cứu năng lượng sạch ngoài khơi. Nhưng công nghệ phải đi cùng nguồn nhân lực và năng lực quản trị để kiểm soát rủi ro, tổ chức sản xuất và bảo đảm an toàn.
Phát triển kinh tế biển đồng thời gắn với quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Một không gian biển có giá trị kinh tế cao phải là không gian được quản lý, giám sát và bảo đảm an toàn.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi khẳng định: “Phát triển kinh tế biển xa, biển sâu không chỉ là mở rộng phạm vi khai thác mà còn là bước chuyển về tư duy phát triển. Đó là chuyển từ khai thác đơn lẻ sang quản trị tổng hợp, từ phát triển ven bờ sang làm chủ không gian biển rộng lớn hơn bằng công nghệ, thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao. Chỉ với cách tiếp cận đó, chúng ta mới có thể hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh, đồng thời tạo dựng thế và lực mới để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh hiện nay”.
Đến năm 2030, mục tiêu quốc gia biển mạnh không chỉ nằm ở việc mở rộng hoạt động trên biển. Thước đo còn là khả năng hình thành hệ sinh thái kinh tế có tổ chức, trong đó hạ tầng kết nối, công nghệ, doanh nghiệp, người dân và quản trị biển cùng tạo ra chuỗi giá trị lớn hơn, sử dụng tài nguyên bền vững và bảo đảm an toàn cho không gian biển.
Từ khóa: kinh tế biển , kinh tế biển Việt Nam, phát triển kinh tế biển, kinh tế biển đến 2030, phát triển biển bền vững, không gian biển Việt Nam, kinh tế biển xanh, công nghệ biển, hạ tầng kinh tế biển, logistics biển Việt Nam, cảng biển nước sâu, năng lượng tái tạo ngoài khơi, bảo vệ chủ quyền biển đảo, tài nguyên biển Việt Nam
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: ánh phương/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN