Từ “liệu pháp sốc” đến nền kinh tế nghìn tỷ USD - kinh nghiệm từ Ba Lan

Cập nhật: 52 phút trước

VOV.VN - Cải cách thể chế, phát triển khu vực tư nhân và thúc đẩy tăng trưởng xanh là những yếu tố then chốt tạo nên sức bật của nền kinh tế Ba Lan.

Bài học từ Ba Lan

Tại Hội thảo “Dẫn đầu tăng trưởng Xanh – Bài học từ quá trình chuyển đổi kinh tế của Ba Lan hướng tới nền kinh tế tuần hoàn và bền vững” diễn rangày 18/6 tại Hà Nội, bà Joanna Skoczek, Trưởng Phái đoàn Cộng hòa Ba Lan tại Việt Nam cho biết, hành trình phát triển của Ba Lan có thể mang đến nhiều bài học có giá trị cho Việt Nam trên hành trình hiện thực hóa những mục tiêu đầy tham vọng về tăng trưởng kinh tế, tiến bộ công nghệ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Theo bà Joanna Skoczek, trong thập niên 1980, nền kinh tế Ba Lan rơi vào tình trạng trì trệ do vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Mô hình tăng trưởng thiếu bền vững, đồng tiền mất giá, các kế hoạch phát triển thiếu thực tế và hệ thống phân phối quan liêu, kém hiệu quả đã trở thành những rào cản lớn đối với sự phát triển của đất nước.

Bước ngoặt xảy ra vào những năm cuối cùng của thế kỷ trước, khi chính phủ Ba Lan triển khai chương trình cải cách toàn diện. Trong nỗ lực đó, Warsaw đã quyết liệt áp dụng một loạt biện pháp mạnh mẽ, hay còn gọi là “liệu pháp sốc”, nhằm kiềm chế siêu lạm phát, giảm nợ công, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Bà Joanna Skoczek nhận định rằng, sự ổn định về thể chế cùng việc khơi dậy tinh thần khởi nghiệp trong nhân dân chính là bệ phóng vững chắc cho sự bứt phá của nền kinh tế Ba Lan suốt những thập niên kế tiếp.

Phát huy nội lực của nền kinh tế

Một trong những bài học nổi bật từ Ba Lan là việc đặt doanh nghiệp tư nhân vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển kinh tế. Sau 15 năm cải cách, Ba Lan gia nhập Liên minh châu Âu (EU) vào năm 2004. Đây được xem là dấu mốc quan trọng mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế của quốc gia này.

Theo số liệu được chia sẻ tại hội thảo, tăng trưởng GDP lũy kế của Ba Lan trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2022 đạt gần 130%, mức cao nhất trong Liên minh châu Âu. Trong đó, khoảng 48% mức tăng trưởng này có liên quan đến những lợi ích mà tư cách thành viên EU mang lại.

Đến năm 2024, Ba Lan chính thức vượt mốc 1.000 tỷ USD về GDP và gia nhập nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Theo dự báo của Ủy ban châu Âu, Ba Lan tiếp tục nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực Trung Âu với mức tăng trưởng khoảng 2,5%.

Tuy nhiên, theo bà Joanna Skoczek, thành công của Ba Lan không chỉ đến từ việc gia nhập EU mà còn từ chính nội lực của nền kinh tế.

“Nền kinh tế Ba Lan hiện phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp tư nhân, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là lực lượng đã giúp Ba Lan tận dụng cơ hội từ thị trường chung châu Âu, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu và tiến tới các lĩnh vực công nghệ cao”, theo bà Joanna Skoczek.

Từ góc độ này, kinh nghiệm của Ba Lan có sự tương đồng với định hướng mà Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra cho Việt Nam. Việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế không chỉ là thay đổi trong nhận thức mà còn đòi hỏi những cải cách mạnh mẽ về môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm quyền tài sản và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển lâu dài.

Chuyển đổi xanh phải gắn với đổi mới sáng tạo và hội nhập

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)cho rằng tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển dịch năng lượng và đổi mới sáng tạo đang trở thành những xu hướng phát triển chủ đạo trên toàn cầu.

Trước các thách thức ngày càng lớn về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, an ninh năng lượng và yêu cầu phát triển bền vững, nhiều quốc gia đang đẩy mạnh chuyển đổi sang các mô hình tăng trưởng xanh hơn, hiệu quả hơn và có khả năng chống chịu tốt hơn.

Đối với Việt Nam, quá trình này càng có ý nghĩa quan trọng khi đất nước đang triển khai chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, chuyển đổi mô hình kinh tế và phát triển bền vững, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Bên cạnh đó, việc tham gia sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP hay UKVFTA cũng đang đặt ra các yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn môi trường, giảm phát thải và phát triển chuỗi cung ứng bền vững.

Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Ba Lan là một trường hợp tiêu biểu về thành công trong chuyển đổi kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hiện đang tiếp tục theo đuổi các mục tiêu chuyển đổi xanh gắn với Thỏa thuận Xanh châu Âu.

Lý giải về thành công này, ôngMarcin Piatkowski (Giáo sư kinh tế tại Đại học Kozminski) cho rằng ba yếu tố cốt lõi giúp Ba Lan tăng trưởng nhanh là thị trường mở, thể chế vững mạnh và việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính.

Theo ông Piatkowski, Việt Nam hiện đã có lợi thế lớn về độ mở của nền kinh tế. Điều quan trọng là tiếp tục xây dựng các thể chế mạnh, học hỏi những mô hình thành công trên thế giới và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.

Đáng chú ý, ông Marcin Piatkowski cho biết Ba Lan hiện chi khoảng 1,5% GDP cho nghiên cứu và phát triển (R&D), cao hơn mức khoảng 0,5% GDP của Việt Nam nhưng thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc. Tuy nhiên, điều làm nên thành công của Ba Lan không phải là “tăng chi” mà là sử dụng hiệu quả nguồn lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Khả năng nhanh chóng tiếp thu, làm chủ và ứng dụng công nghệ mới đã giúp các doanh nghiệp Ba Lan nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh.

Từ khóa: kinh tế, Ba Lan,tư nhân,cải cách

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: diệp thảo/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập