Liên kết “4 nhà” đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - ĐBSCL đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp và ứng dụng công nghệ cao. Chính sự liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân là chìa khóa để biến những định hướng đó thành giá trị thực tiễn.

Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không chỉ là câu chuyện của công nghệ hay những mô hình thí điểm, mà còn là quá trình gắn kết giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân. Tại ĐBSCL, nhiều mô hình liên kết “4 nhà” đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật ra đồng ruộng, hình thành các chuỗi giá trị xanh từ sản xuất đến tiêu thụ. Đây được xem là chìa khóa để nâng cao giá trị nông sản, giảm phát thải và tăng sức cạnh tranh cho vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước.

Hiệu quả từ các mô hình liên kết “4 nhà” tại vùng ĐBSCL

Tại nhiều địa phương trong vùng ĐBSCL, mô hình nông nghiệp xanh chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi hình thành được chuỗi liên kết đồng bộ từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển giao và ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn.

Ở Sóc Trăng (cũ), nay là thành phố Cần Thơ, mô hình liên kết giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý và hợp tác xã đang cho thấy hiệu quả rõ nét. Ông Vũ Ngọc Đỉnh, Tổng Giám đốc Tập đoàn Techban Group cho biết, doanh nghiệp đang triển khai ba tổ hợp nông nghiệp công nghệ cao tại địa phương, ứng dụng đồng bộ công nghệ số, năng lượng tái tạo và các quy trình sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất và giảm tác động đến môi trường.

Một trong những dự án tiêu biểu là mô hình sản xuất gạo theo tiêu chuẩn GlobalG.A.P được triển khai tại Trần Đề. Dự án có sự phối hợp giữa doanh nghiệp với Sở Khoa học và Công nghệ, chính quyền địa phương, các hợp tác xã và nông dân.

Theo ông Vũ Ngọc Đỉnh, từ khâu lựa chọn giống, tổ chức vùng nguyên liệu, canh tác, thu hoạch đến chế biến đều được kiểm soát theo quy trình thống nhất. Toàn bộ dữ liệu sản xuất được số hóa và kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc. Cùng với đó đầu tư chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị nông sản. Nhiều sản phẩm từ gạo ST và hành tím Sóc Trăng đã được thương mại hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Theo ông Vũ Ngọc Đỉnh, việc doanh nghiệp cam kết thu mua sản phẩm với giá ổn định giúp nông dân yên tâm thực hiện các quy trình sản xuất xanh vốn đòi hỏi nhiều thay đổi trong tập quán canh tác. ÔngĐỉnh cho hay: "Phát triển những sản phẩm trực tiếp từ vùng trồng nơi có thổ nhưỡng tốt nhất, nâng tầm chất lượng sản phẩm, qua đó nâng cao thu nhập của bà con nông dân qua HTX. Phát triển những sản phẩm chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm từ các vùng trồng. Chúng tôi lựa chọn giống lúa, vùng trồng, canh tác, bảo quản cái quy trình canh tác chúng tôi tuân thủ theo đúng chỉ dẫn của GlobalGap".

Một trong những ví dụ về liên kết giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân là mô hình sản xuất lúa phát thải thấp củaCông ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS)tại khu vực Tây Nam Bộ.Ông Trần Tấn Việt,thành viên Hội đồng quản trị AgriScho biết, doanh nghiệp đang áp dụng nhiều quy trình canh tác tiên tiến theo khuyến cáo của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) như: san phẳng mặt ruộng bằng laser, gieo sạ thưa và tưới ngập khô xen kẽ. Đặc biệt, sử dụng phân bón được bao bọc bằng nano giúp giảm khoảng 30% lượng phân hóa học nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả hấp thu dinh dưỡng của cây trồng.

Cùng với đó, thay thế thuốc bảo vệ thực vật bằng biện pháp sinh học thông qua việc sử dụng ong ký sinh Trichogramma (ong mắt đỏ) để kiểm soát sâu hại trên đồng ruộng.

Theo ông Trần Tấn Việt, vụ sản xuất gần đây hầu như không phải sử dụng thuốc trừ sâu. Hệ sinh thái tự nhiên trên đồng ruộng được phục hồi, các loài thiên địch phát triển trở lại, góp phần giảm tác động tiêu cực đến môi trường và nâng cao chất lượng hạt gạo. Những lô gạo phát thải thấp đã xuất khẩu đi các thị trường, điều này chứng minh mô hình không còn là khái niệm trong phòng thí nghiệm mà đang từng bước hiện diện trên những cánh đồng lúa của vùng ĐBSCL.

Thách thức về quy mô và nguồn nhân lực trong chuyển đổi nông nghiệp xanh

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên quá trình xây dựng các chuỗi giá trị nông nghiệp xanh vẫn còn nhiều khó khăn.Ông Trần Hồ Văn Khoa, Giám đốc Công ty TNHH Techpal Sóc Trăng cho rằng, trở ngại lớn nhất hiện nay là quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ.Để đầu tư hiệu quả các hệ thống tự động hóa, truy xuất nguồn gốc và quản lý thông minh, doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu tập trung từ hàng nghìn héc-ta trở lên. Trong khi đó, phần lớn hợp tác xã hiện chỉ quản lý diện tích vài chục đến vài trăm héc-ta, phân tán ở nhiều khu vực khác nhau.

Bên cạnh đó,việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt các tiêu chuẩn quốc tế cũng đòi hỏi thời gian dài và chi phí lớn. Đối với sản xuất hữu cơ hoặc phát thải thấp, nhiều khu vực phải trải qua giai đoạn chuyển đổi kéo dài từ hai đến ba năm trước khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật.

Theo ông Trần Hồ Văn Khoa, một khó khăn khác là nguồn nhân lực. Nhiều hợp tác xã còn thiếu cán bộ có chuyên môn về quản lý sản xuất, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc. Không ít nông dân lớn tuổi vẫn gặp khó khăn khi sử dụng điện thoại thông minh, nhật ký điện tử hay các nền tảng quản lý sản xuất. Bên cạnh đó, hệ thống chế biến sau thu hoạch của vùng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều doanh nghiệp phải vận chuyển nguyên liệu đi xa để chế biến, làm tăng chi phí và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Trong quá trình chuyển đổi xanh, các nhà khoa học đóng vai trò quan trọng. Không chỉ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, đội ngũ khoa học còn tham gia tư vấn quy trình sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp thương mại hóa sản phẩm và kết nối thị trường tiêu thụ. Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, chuyên gia kinh tế cho rằng, vùng ĐBSCL đang có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp xanh nhờ hệ sinh thái nông nghiệp đặc thù và sự chủ động tiếp cận công nghệ mới của người dân. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm và được thị trường chấp nhận.

Từ những cánh đồng lúa phát thải thấp đến các vùng nguyên liệu đạt chuẩn quốc tế, từ ứng dụng công nghệ số đến năng lượng tái tạo, liên kết “4 nhà” đang từng bước tạo nên nền tảng mới cho nông nghiệp ĐBSCL.

Khi khoa học công nghệ được kết nối chặt chẽ với nhu cầu thị trường và lợi ích của người sản xuất, quá trình chuyển đổi xanh không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ hội nâng cao giá trị nông sản, gia tăng thu nhập cho người dân và xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững trong tương lai.

Từ khóa: công nghệ , ĐBSCL, chuyển đổi xanh nông nghiệp ĐBSCL,liên kết 4 nhà trong nông nghiệp,mô hình nông nghiệp xanh miền Tây,ứng dụng công nghệ cao nông nghiệp Việt Nam,chuỗi giá trị nông sản bền vững,giảm phát thải trong sản xuất lúa,chuyển giao công nghệ ra đồng ruộng,liên kết doanh nghiệp nông dân hợp tác xã,phát triển nông nghiệp phát thải thấp,vùng nguyên liệu đạt chuẩn quốc tế,nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu,ứng dụng số hóa trong sản xuất nông nghiệp,nông nghiệp tuần hoàn và bền vững,doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp công nghệ cao,công nghệ

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: phạm hải - thanh tùng/vov-đbscl

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập