Lãng mạn, ấm áp Tết Việt

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Gắn bó với tiếng Việt và văn học Việt hơn 30 năm, Phó Giáo sư Hạ Lộ của Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc từng nhiều lần ăn Tết tại Việt Nam. Dù văn hóa hai nước có nhiều nét tương đồng, nhưng chị vẫn rung cảm trước từng nét khác biệt của Tết Việt.

Lãng mạn Tết Việt

Lãng mạn là một trong những ấn tượng sâu sắc của chị khi đón Tết tại Việt Nam vào năm 2001. Khi ấy, chị đang là giảng viên tiếng Việt ở Đại học Bắc Kinh và được Bộ Giáo dục Trung Quốc cử sang Hà Nội tham gia chương trình học bổng học giả hệ một năm.

Hơn 20 năm đã trôi qua, song ấn tượng về những ngày Tết năm ấy vẫn in sâu trong tâm trí chị. PGS Hạ Lộ nhớ lại: “Các chợ hoa bán đào, quất ở Hà Nội rất nhộn nhịp dịp trước Tết. Trước giờ, tôi chỉ được biết đến phong tục Tết của Việt Nam qua sách vở. Năm đó, tận mắt chứng kiến ​​những chiếc xe máy chở đầy đào, quất len lỏi giữa phố phường Hà Nội, tôi ngạc nhiên lắm, nhưng cũng cảm thấy vô cùng lãng mạn. Tôi chợt nghĩ, có lẽ trên thế giới chỉ có Hà Nội mới chơi hoa đào tươi để chào đón ngày lễ lớn nhất trong năm. Phong tục này khiến tôi nhớ đến Giáng sinh ở phương Tây, nhưng làm sao cây thông Noel có thể sánh được với vẻ đẹp và sự lãng mạn của hoa đào?”

Chị bảo, hoa đào mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp trong văn học ở cả Việt Nam và Trung Quốc, đều tượng trưng cho vẻ đẹp và mùa Xuân. Tuy nhiên, do khí hậu khác nhau, hoa đào không nở ở hầu hết các vùng của Trung Quốc vào dịp Tết Nguyên đán. Do vậy, người Trung Quốc không có phong tục trang trí nhà cửa bằng hoa đào trong dịp này như miền Bắc Việt Nam.

Sự lãng mạn của Tết Việt lại mang một màu sắc khác khi chị đón cái Tết miền Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018.

Dù không có hoa đào, nhưng thành phố này giúp chị cảm nhận được sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Việt Nam; sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người qua từng nét bài trí tiểu cảnh Tết với cây lúa, người rơm, hoa sen, hoa súng; sự “an toàn tuyệt đối” khi hòa vào dòng người đông nghẹt trong những hoạt động lễ hội ngoài trời, hay sự kiên nhẫn của người dân xếp hàng dài để xin “lộc” trong đêm Giao thừa tại một ngôi chùa nổi tiếng mang tên Viên Giác. Tại đây, chị đã được thăm lại vị sư trụ trì chùa, cũng là một người bạn từng hai lần tham gia chương trình học bổng học giả tại Đại học Bắc Kinh.

Với chị, đây là một kiểu lãng mạn khác của Tết phương Nam. Đây cũng là lần đầu tiên PGS Hạ Lộ đón Tết ở một nơi nắng ấm như vậy và lần đầu tiên chị đến chùa vào đêm Giao thừa.

Ấm áp tình người nơi xa xứ

Sự quan tâm của những người bạn và thầy cô Việt Nam trong ngày Tết, cũng khiến PGS Hạ Lộ đến giờ vẫn không thể nào quên. Nhớ lại Tết năm 2001, chị kể, ngoài được tham dự bữa cơm tất niên do Trung tâm phục vụ lưu học sinh của Bộ Giáo dục và Đạo tạo Việt Nam tổ chức, chị còn bất ngờ nhận được 10.000 đồng tiền mừng tuổi từ giám đốc trung tâm. “Ở Trung Quốc, từ trước tới giờ, người ta thường chỉ lì xì cho trẻ em vào dịp Tết Nguyên Đán, hiếm khi mừng tuổi cho người lớn. Bởi vậy, lúc đó tôi rất bất ngờ và vui mừng. Mặc dù số tiền không nhiều, nhưng tình cảm thì thật quý giá. Đó là lần đầu tiên tôi được nhận lì xì kể từ khi tròn 20 tuổi”, chị nhớ lại.

Vào đêm Giao thừa, chị còn được các sinh viên Việt Nam chở xe máy đi khắp phố phường, qua Lăng Bác và vòng quanh Hồ Gươm để cảm nhận không khí đón Tết rộn ràng của người Hà Nội. Dù khi đó chưa có smartphone hay máy tính để lưu lại những khoảnh khắc quý giá bên nhau, nhưng hình ảnh và giọng nói của họ vẫn không phai trong ký ức của chị.

Một kỷ niệm ấm áp khác là dịp Tết năm 2015, PGS Hạ Lộ được tham gia hoạt động thiện nguyện tại một viện dưỡng lão kiêm trại trẻ mồ côi ở tỉnh Sơn Tây (cũ) do doanh nhân kiêm nhà thơ Nguyễn Tiến Quyến tổ chức. Tận mắt chứng kiến những tình nguyện viên chăm chút, nâng niu từng phần quà từ thiện và không khí vui vẻ của ngày Tết ngập tràn nơi đây, chị càng thấm thía câu ca dao thân thuộc của người dân Việt Nam: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

Chị nhớ lại: “Trong số các tình nguyện viên, có một sinh viên đại học từng lớn lên trong trại trẻ mồ côi đó. Cô ấy kể với tôi rằng, mỗi năm trước Tết, cô ấy đều quay lại làm tình nguyện. Tôi nghe xong cảm động lắm. Sau khi đến nơi, chúng tôi đã vào từng khu nhà, thăm những người già và trẻ mồ côi, còn ăn trưa cùng họ… Tôi cảm nhận rất rõ, khi quây quần bên nhau, họ thật ấm áp và gần gũi, giống như một gia đình lớn vậy”.

Tình yêu dành cho Hà Nội và tâm nguyện gắn bó với văn học Việt

Điểm tên những nơi từng đặt chân đến ở Việt Nam, PGS Hạ Lộ cho biết, chị đã đi rất nhiều nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi và cả các địa phương ven biển. Các điểm đến nổi tiếng như Huế, Nha Trang, Đà Nẵng, Đà Lạt hay Phú Quốc chị từng đến rất nhiều lần, riêng Vịnh Hạ Long đã có đến hơn 10 lần, Thành phố Hồ Chí Minh là 11 lần. Nhưng dù có đi bao nhiều lần thì chị vẫn muốn quay lại, bởi nơi nào chị cũng thích vì mỗi nơi đều mang những nét đặc trưng riêng. Chính vì lẽ đó, mùa Đông năm nay, ngay dịp trước Tết, chị lại một lần nữa đưa con gái sang du lịch Việt Nam.

Khi được hỏi thích nhất nơi nào, chị không chần chừ trả lời: Hà Nội. “Thứ nhất, tôi cảm thấy Hà Nội có nền văn hóa phong phú, nhiều di tích lịch sử, thư viện, hiệu sách và bảo tàng... Là một người yêu sách, lẽ đương nhiên tôi rất thích bầu không khí văn hóa này. Thứ hai, tôi đã dành nhiều thời gian nhất ở Hà Nội. Ở đây, tôi có nhiều bạn bè. Tôi thân thuộc với rất nhiều trường đại học và thầy cô tại đây. Là một giảng viên đại học, mỗi lần đến Hà Nội, tôi luôn cảm thấy như được trở về nhà. Thứ ba, dù Hà Nội phát triển nhanh chóng, nhưng thành phố này vẫn giữ được khu phố cổ và nhiều công trình kiến ​​trúc cổ kính. Mỗi lần đến Hồ Hoàn Kiếm, tôi đều cảm thấy thật gần gũi, thân quen, không hề có cảm giác những truyền thống xưa cũ đã biến mất trong tiến trình hiện đại hóa”.

Tình yêu Việt Nam, tình yêu Hà Nội của PGS Hạ Lộ bắt nguồn từ niềm đam mê với văn học Việt. Chị từng được gọi là “bà đỡ” của văn học Việt ở Trung Quốc. Nhiều tác phẩm văn học xuất sắc của Việt Nam như “Số đỏ” đã được chị chuyển ngữ thành công. Chị còn dịch và xuất bản hàng loạt truyện ngắn của các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Y Ban, Lê Minh Khuê.

Vài năm trước, chị đã chủ biên và dịch các cuốn sách như “Truyện cổ tích Việt Nam” và “Tuyển tập thơ Việt Nam”. Hiện tại, chị đang dịch tiểu thuyết “Mưa Đỏ” của nhà văn Chu Lai, tác phẩm được chuyển thể thành phim thành công mà chị rất thích. Chị cũng thích các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và đã đưa một số trích đoạn của những tiểu thuyết này vào tài liệu giảng dạy cho sinh viên. Chị còn dành tình cảm cho các tác phẩm của nữ nhà văn Phan Thị Vàng Anh và đang chờ cơ hội để có thể xuất bản một vài tiểu thuyết của hai tác giả này. Chị chia sẻ: “Đọc những tác phẩm văn học Việt Nam xuất sắc là một sự tận hưởng đối với tôi. Các tác phẩm này luôn truyền cảm hứng cho tôi và thôi thúc tôi sáng tác. Biết đâu đấy, một ngày nào đó tôi cũng sẽ viết tiểu thuyết. Tôi đã chia sẻ ý tưởng này với một vài nhà văn Việt Nam và họ đều rất ủng hộ. Nếu một ngày nào đó tôi viết tiểu thuyết, có lẽ tôi phải cảm ơn các nhà văn Việt Nam”.

PGS Hạ Lộ từng nói: “Nếu phải chọn lại lần nữa, tôi vẫn sẽ chọn nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Việt Nam”. Bởi theo chị, thông qua việc học tiếng Việt và văn học Việt, chị có được cái nhìn độc đáo về thế giới, cũng như nhìn nhận lại ngôn ngữ và văn học Trung Quốc, hiểu được mối quan hệ mật thiết và lâu đời giữa văn học Trung Quốc và Việt Nam. Đây là những điều mà trước khi học tiếng Việt chị không hề biết. Cũng nhờ nghiên cứu văn học và văn hóa Việt Nam, chị đã được gặp nhiều học giả xuất sắc trong lĩnh vực này, được mở rộng tầm mắt và điều này khiến cuộc sống của chị thêm phần phong phú.

Để lan tỏa tình yêu của mình, những năm gần đây, chị không chỉ giới thiệu về lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam cho sinh viên của mình, mà còn cả với những người bạn xung quanh và khích lệ họ đến Việt Nam.

Mong ước của PGS Hạ Lộ rất giản dị, đó là thông qua các bản dịch, bài viết và cuốn sách của mình, chị có thể giới thiệu nhiều hơn về Việt Nam đến bạn đọc Trung Quốc. Và càng chuyển ngữ thành công nhiều tác phẩm văn học Việt, chị sẽ càng được nhiều người biết đến, khi đó chị sẽ có thể tìm lại được những người bạn từ thưở sinh viên - những người từng chở chị bằng xe máy rong ruổi khắp phố phường Hà Nội Tết năm nào.

Tết của duyên kỳ ngộ

Trong số 3 cái Tết Việt khiến chị khó quên, dịp Tết năm 2015 được chị gọi là “cái Tết đậm chất văn nghệ và bội thu tình bạn”. Trong cái Tết này, chị kết giao thêm nhiều người bạn văn chương.

Ý nghĩa hơn khi lần đầu tiên chị được biết Rằm tháng Giêng là Ngày thơ Việt Nam và hoạt động về ngày này được tổ chức hàng năm ở Văn Miếu. Thêm một lần nữa chị lại cảm nhận được “sự lãng mạn và vẻ đẹp của các ngày lễ truyền thống của Việt Nam”. “Tết Nguyên tiêu Rằm tháng Giêng ở Trung Quốc cũng rất sôi động, có giải đố đèn lồng và hội thơ. Tuy nhiên, ngày hội này vẫn chưa được công nhận là Ngày thơ Quốc gia. Hơn thế, Trung Quốc, với tư cách là một vương quốc thơ ca, vẫn chưa có Ngày thơ Quốc gia. Sau này, tôi đã chia sẻ điều này với các nhà thơ Trung Quốc và hy vọng trong tương lai chúng tôi cũng có Ngày thơ Quốc gia”, PGS Hạ Lộ chia sẻ.

Từ khóa: Tết, Tết Việt, Tết 2026, xuân Bính Ngọ, năm mới 2026, năm mới Bính Ngọ, văn hóa Việt, giao lưu văn hóa, người Việt Nam ở nước ngoài

Thể loại: Tin tức sự kiện

Tác giả: bích thuận/vov-bắc kinh

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập