Không còn điểm cộng IELTS, giảm phương thức tuyển sinh: Áp lực đổi hướng?

Cập nhật: 19 phút trước

VOV.VN - Dự kiến từ năm 2027, đại học bỏ điểm cộng cho chứng chỉ, thành tích; mỗi ngành tối đa 3 phương thức xét tuyển, từ năm 2028 dự kiến còn 1. Theo thầy Đinh Đức Hiền, tuyển sinh có thể gọn hơn, nhưng áp lực học sinh có thể chỉ chuyển từ cuộc đua này sang cuộc đua khác.

Bỏ điểm cộng IELTS, ngoại ngữ có mất giá?

PV:Dự thảo tuyển sinh đại học từ năm 2027 dự kiến không cho các trường tự quy định điểm cộng đối với chứng chỉ, thành tích. Theo thầy, thay đổi này sẽ tác động thế nào đến học sinh?

Thầy Đinh Đức Hiền: Tôi cho rằng trước hết cần nhìn vào bản chất của điểm cộng. Khi một chứng chỉ hoặc thành tích được cộng trực tiếp vào điểmxét tuyển đại học, nó tạo ra một lợi thế rất rõ cho người có chứng chỉ hoặc thành tích đó.

Trong điều kiện hiện nay, cơ hội tiếp cận IELTS, các kỳ thi và những hoạt động được cộng điểm còn phụ thuộc vào địa bàn, điều kiện kinh tế và khả năng chi trả của gia đình. Cùng một chứng chỉ nhưng mỗi trường có thể quy đổi, cộng điểm và áp dụng cho những tổ hợp khác nhau.

Đáng nói hơn, một năng lực có thể được ghi nhận hai lần: vừa được quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ, vừa tiếp tục được cộng thêm. Ở nhóm điểm cao, chỉ 0,25 - 0,5 điểm cũng có thể làm thay đổi thứ tự trúng tuyển. Vì vậy, việc không để các trường tự đặt ra các mức điểm cộng khác nhau có thể hạn chế tình trạng điểm xét tuyển vượt quá 30 và giúp cách tính điểm dễ hiểu hơn.

Tuy nhiên, không nên hiểu rằng bỏ điểm cộng thì điểm chuẩn sẽ thấp xuống, bởi điểm chuẩn còn phụ thuộc vào chỉ tiêu, số lượng thí sinh và sức hút của từng ngành. Nếu lợi thế chỉ chuyển từ cột “điểm cộng” sang một bảng “điểm quy đổi” quá rộng thì vấn đề cũ vẫn còn.

PV:Có ý kiến cho rằng nếu không còn điểm cộng IELTS, học sinh có thể giảm động lực học ngoại ngữ. Thầy nhìn nhận thế nào?

Thầy Đinh Đức Hiền: Không cộng điểm IELTS không có nghĩa chứng chỉ ngoại ngữ mất giá trị trong tuyển sinh hay trong học tập. IELTS vẫn có thể được sử dụng theo những cách phù hợp với quy định tuyển sinh, chẳng hạn quy đổi thay cho môn ngoại ngữ trong tổ hợp hoặc chứng minh chuẩn đầu vào của những chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ. Điều dự kiến bị bỏ là khoản điểm cộng đứng ngoài thang điểm xét tuyển.

Theo tôi, nguyên tắc đúng là một năng lực được ghi nhận một lần, đúng với yêu cầu của ngành và theo cùng một quy tắc đối với mọi thí sinh. Học sinh cũng không nên vì mất điểm cộng mà dừng đầu tư cho ngoại ngữ. IELTS vẫn có giá trị đối với việc học đại học, các chương trình quốc tế, học bổng và cơ hội nghề nghiệp. Nhất là khi giáo dục đang hướng tới việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, năng lực ngoại ngữ càng không thể chỉ được nhìn qua vài điểm thưởng tuyển sinh.

Điều cần thay đổi là mục tiêu học: học ngoại ngữ để sử dụng được, không chỉ để mua thêm lợi thế khi xét tuyển.

PV: Còn với giải học sinh giỏi, nếu không còn điểm cộng thì liệu học sinh và nhà trường có giảm đầu tư?

Thầy Đinh Đức Hiền: Đây cũng là vấn đề cần tính đến. Nếu một giải thưởng mang lại lợi thế trực tiếp trong tuyển sinh thì khi lợi thế đó không còn, một số học sinh có thể cân nhắc lại việc tham gia các đội tuyển.

Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để nhìn lại mục tiêu của việc bồi dưỡng học sinh giỏi. Thành tích phải nhằm phát hiện và nuôi dưỡng những học sinh có năng lực nổi trội, giúp các em phát triển sâu hơn về học thuật, chứ không nên chỉ trở thành một công cụ để đổi lấy điểm cộng tuyển sinh.

Những năng lực nổi trội cần được ghi nhận thông qua xét tuyển thẳng, tuyển theo tài năng hoặc học bổng, với điều kiện thành tích thực sự liên quan đến ngành đào tạo. Điểm cộng có thể bỏ, nhưng năng lực thật không thể bị bỏ quên.

Giảm phương thức nhưng có thể xuất hiện nhiều “đường đua”

PV: Một thay đổi đáng chú ý khác là giới hạn mỗi ngành tối đa 3 phương thức xét tuyển trong năm 2027 và dự kiến còn 1 phương thức từ năm 2028. Theo thầy, việc giảm số phương thức có thực sự làm giảm áp lực tuyển sinh?

Thầy Đinh Đức Hiền: Tôi cho rằng giảm số lượng phương thức là hướng điều chỉnh phù hợp, nhưng số lượng phương thức không phải vấn đề cốt lõi duy nhất.

Theo dữ liệu được Bộ GD-ĐT công bố, hơn 2.000 chương trình đào tạo, chiếm trên 40% số chương trình sử dụng từ hai phương thức trở lên, có mức chênh lệch từ 3 điểm trở lên giữa các phương thức. Điều đó cho thấy nhiều “cửa” xét tuyển chưa chắc tạo ra nhiều cơ hội công bằng. Cùng một năng lực nhưng thí sinh có thể được đánh giá rất khác nhau tùy vào cánh cửa mình bước vào.

Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là có bao nhiêu phương thức mà là các phương thức đó được thiết kế như thế nào, mức độ tương đương ra sao và học sinh thực tế phải chuẩn bị những gì.

PV: Thầy có thể nói rõ hơn về nguy cơ “ít phương thức trên giấy nhưng nhiều đường đua” đối với học sinh?

Thầy Đinh Đức Hiền: Nếu mỗi trường chỉ sử dụng một phương thức nhưng trường này dùng điểm thi tốt nghiệp THPT, trường khác dùng kết quả đánh giá năng lực, trường khác lại tổ chức một kỳ thi riêng thì học sinh muốn duy trì nhiều lựa chọn vẫn phải tham gia nhiều kỳ thi. Khi ấy, mỗi ngành có một phương thức nhưng toàn hệ thống lại hình thành nhiều đường đua.

Vì vậy, giảm xuống một phương thức chỉ thực sự có ý nghĩa nếu đó là một nguyên tắc xét tuyển minh bạch, có khả năng so sánh và đánh giá tương đối thống nhất. Một phương thức không nhất thiết chỉ sử dụng một nguồn điểm duy nhất. Có thể kết hợp điểm thi, kết quả học tập hoặc chứng chỉ phù hợp, miễn là mỗi năng lực chỉ được tính một lần và các thí sinh được đánh giá theo cùng một nguyên tắc.

Ngược lại, nếu các trường lựa chọn những kỳ thi riêng khác nhau, thị trường luyện thi mới cũng có thể hình thành. Khi đó, áp lực không giảm mà chỉ chuyển từ luyện thi tốt nghiệp sang luyện nhiều bài thi đánh giá năng lực.

PV: Như vậy, khi nói đến công bằng trong tuyển sinh, theo thầy điều gì quan trọng hơn việc có nhiều hay ít phương thức?

Thầy Đinh Đức Hiền: Tôi cho rằng cần quan tâm các cơ hội xét tuyển có thực sự tương đương về mức độ đánh giá hay không. Nếu điểm số từ phương thức A và phương thức B không thực sự tương đương nhưng lại cùng được sử dụng để xếp thí sinh vào một ngành, việc lựa chọn phương thức có thể trở thành yếu tố rất lớn quyết định cơ hội trúng tuyển.

Công bằng không có nghĩa là tất cả học sinh phải đi qua đúng một cánh cửa. Điều quan trọng là các em được tiếp cận cơ hội một cách hợp lý và được đánh giá theo những nguyên tắc minh bạch, nhất quán.

Tuyển sinh đại học tác động ngược đến dạy và học THPT

PV: Những thay đổi trong tuyển sinh đại học có thể tác động thế nào đến việc dạy và học ở THPT?

Thầy Đinh Đức Hiền: Tuyển sinh là một trong những yếu tố tạo động lực rất mạnh đối với việc học. Khi IELTS được cộng điểm, học sinh có xu hướng học chứng chỉ ngày càng sớm, phụ huynh đầu tư nhiều hơn cho các trung tâm và nhà trường cũng chịu áp lực chạy theo số lượng chứng chỉ. Việc bỏ điểm cộng có thể giúp giảm cuộc đua này và đưa việc học ngoại ngữ trở về với năng lực sử dụng thực chất.

Nhưng chiều ngược lại cũng cần được cảnh báo. Nếu ngoại ngữ không còn được ghi nhận hợp lý trong tuyển sinh, một bộ phận học sinh và phụ huynh có thể giảm đầu tư. Khi đó, chính sách tuyển sinh lại có thể đi ngược mục tiêu nâng cao năng lực ngoại ngữ. Tương tự, nếu một phương thức duy nhất phụ thuộc quá lớn vào điểm thi tốt nghiệp THPT, hoạt động dạy học có nguy cơ quay trở lại luyện thi và học theo dạng bài. Học sinh có thể tập trung vào những môn được xét tuyển, trong khi các năng lực khác của chương trình giáo dục phổ thông bị xem nhẹ.

Nếu các trường đại học lựa chọn nhiều kỳ thi riêng khác nhau, thị trường luyện thi mới có thể xuất hiện. Áp lực khi đó không giảm mà chỉ chuyển từ luyện thi tốt nghiệp sang luyện nhiều bài thi đánh giá năng lực.

Việc bỏ lợi thế từ giải học sinh giỏi cũng có thể khiến một số học sinh và nhà trường giảm đầu tư cho các đội tuyển. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để đưa hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi trở về đúng mục tiêu: phát hiện, nuôi dưỡng tài năng và tạo nền tảng học thuật lâu dài, thay vì chỉ săn giải để đổi lấy điểm cộng.

Vì vậy, trường phổ thông không nên chạy theo mọi thay đổi tuyển sinh. Nền tảng bền vững vẫn phải là chương trình chính khóa, năng lực tự học, tư duy, ngoại ngữ, công nghệ và khả năng giải quyết vấn đề.

PV: Theo thầy, năm 2027 cần được nhìn nhận như thế nào nếu đây là năm bắt đầu áp dụng những thay đổi lớn?

Thầy Đinh Đức Hiền: Tôi cho rằng cần coi đây là một giai đoạn rất quan trọng để đánh giá chính sách bằng dữ liệu thực tế. Sau mùa tuyển sinh năm 2027, cần có dữ liệu về độ chênh giữa các nguồn điểm, khả năng dự báo kết quả học tập ở đại học, chi phí thí sinh phải bỏ ra, số kỳ thi thực tế phải tham gia và mức độ tiếp cận của học sinh ở những địa bàn khác nhau.

Chỉ khi có những dữ liệu này mới nên quyết định cách áp dụng từ năm 2028. Lộ trình một năm chỉ có ý nghĩa nếu đó là thời gian để kiểm chứng chính sách, không phải một mốc chuyển đổi đã được ấn định bất chấp kết quả thực tế.

Đặc biệt, mọi thay đổi phải được công bố đủ sớm và có giai đoạn chuyển tiếp cho học sinh lớp 11, lớp 12. Không thể yêu cầu học sinh chủ động xây dựng kế hoạch học tập nếu “luật chơi” liên tục thay đổi trong lúc các em đang chuẩn bị.

PV: Theo thầy, những tiêu chí nào có thể cho thấy chính sách tuyển sinh thực sự giảm áp lực cho học sinh?

Thầy Đinh Đức Hiền: Tôi nghĩ có thể nhìn vào ba nhóm vấn đề. Thứ nhất là độ minh bạch: học sinh và phụ huynh có hiểu mình được xét tuyển như thế nào hay không. Thứ hai là chi phí và thời gian: một học sinh muốn có cơ hội vào đại học có phải tham gia quá nhiều kỳ thi, học quá nhiều chứng chỉ hay không. Thứ ba là chất lượng đánh giá: sau khi tuyển vào đại học, kết quả tuyển sinh có phản ánh tương đối đúng năng lực học tập của sinh viên hay không.

Nếu giảm phương thức nhưng chi phí không giảm, giảm điểm cộng nhưng học sinh lại phải chạy theo những chứng chỉ hoặc kỳ thi khác, thì áp lực chỉ chuyển từ chỗ này sang chỗ khác.

PV: Thầy có thể nói ngắn gọn thế nào về câu chuyện “bỏ điểm cộng, giảm phương thức”?

Thầy Đinh Đức Hiền: Bỏ điểm cộng có thể làm giảm một dạng lợi thế trong xét tuyển; giảm phương thức có thể làm hệ thống dễ hiểu hơn. Nhưng để học sinh thực sự giảm áp lực, chúng ta phải giảm được sự chênh lệch, chi phí và bất định trong quá trình chuẩn bị vào đại học.

Một chính sáchtuyển sinhtốt không chỉ làm cho quy chế gọn hơn. Nó phải khiến học sinh học sâu hơn, trường phổ thông dạy thật hơn, phụ huynh không phải mua thêm những “cánh cửa” và trường đại học chọn đúng người hơn.

Công bằng không phải là mọi học sinh cùng đi qua một cánh cửa. Công bằng là các em có cơ hội tiếp cận hợp lý và được đánh giá bằng cùng một nguyên tắc. Điều cần giảm không chỉ là số phương thức, mà còn là độ chênh, chi phí và sự bất định mà học sinh phải gánh chịu.

PV: Xin cảm ơn thầy!

Từ khóa: tuyển sinh đại học, VOV, tuyển sinh đại học, điểm cộng IELTS, bỏ điểm cộng IELTS, IELTS tuyển sinh, phương thức xét tuyển, tuyển sinh đại học 2027, xét tuyển đại học

Thể loại: Xã hội

Tác giả: thu hằng/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập