Hai điểm nóng Iran và Ukraine làm trầm trọng thêm khủng hoảng năng lượng toàn cầu
Cập nhật: 45 phút trước
Hai điểm nóng Iran và Ukraine làm trầm trọng thêm khủng hoảng năng lượng toàn cầu
Hà Nội xử phạt người đàn ông đăng tin giả về Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng
VOV.VN - Xung đột giữa Iran với Mỹ và cuộc chiến Ukraine không còn là hai cuộc khủng hoảng riêng rẽ. Chúng đang tương tác và khuếch đại lẫn nhau, làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, gây áp lực lên ngành dầu khi, kinh tế thế giới cũng như chính trường Mỹ.
Giới hoạch định chính sách Mỹ đánh giá cuộc khủng hoảng năng lượng đã qua giai đoạn nguy hiểm và chi phí chính trị của việc leo thang xung đột sẽ ở mức chấp nhận được sau khi giá dầu Brent giảm từ mức đỉnh hơn 120 USD/thùng hồi đầu năm xuống khoảng 72 USD/thùng vào đầu tháng 7, nhờ lượng dầu tồn kho tại Vùng Vịnh được giải phóng và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) tăng sản lượng sau khi rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Chính điều đó đã khiến Washingtoncho rằng thị trường dầu mỏ đã đủ ổn định để nối lại các hoạt động quân sự nhằm vào Iran. Tuy nhiên, nhận định này đã bỏ qua một thực tế quan trọng rằngnguồn cung dầu thô có thể phục hồi, nhưng năng lực lọc dầu toàn cầu thì chưa.
Trong khi đó, các đợt tấn công của Ukraine nhằm vào hệ thống lọc dầu của Nga đã khiến phần năng lực dự phòng còn lại trên thế giới tiếp tục bị thu hẹp. Sau hai tháng, hai cuộc chiến vốn diễn ra ở hai khu vực khác nhau đã hình thành một chuỗi tác động liên hoàn, với những hệ lụy kinh tế ngày càng lan rộng.
Mục tiêu chiến lược của Iran không thay đổi kể từ sau khi Mỹ phát động chiến dịch quân sự nhằm vào nước nàyngày 28/2. Iran hiểu rằng họ khó có thể đánh bại Mỹ về quân sự, vì vậy Tehran đã lựa chọn chuyển trọng tâm sang mặt trận kinh tế - nơi có thể tạo áp lực chính trị đối với Washington.
Sau giai đoạn ngừng bắn hồi tháng 6, Iran từng được phép tạm thời xuất khẩu dầu và các sản phẩm dầu mỏ. Tuy nhiên, Mỹ nhanh chóng thu hồi cơ chế này chỉ vài tuần sau khi eo biển Hormuz được mở lại. Các cuộc đàm phán cũng không tạo ra một thỏa thuận hàng hải lâu dài, khiến Iran tiếp tục chịu sức ép về xuất khẩu mà không đạt được bất kỳ lợi ích kinh tế bền vững nào.
Trong bối cảnh đó, việc gây gián đoạn hoạt động vận tải biển tiếp tục được Tehran xem là công cụ hiệu quả nhất nhằm tạo áp lực lên Washington. Chiến lược này phụ thuộc vào việc giá năng lượng tăng đủ mạnh để tác động trực tiếp tới cử tri Mỹ.
Tuy nhiên, khi xuất khẩu dầu từ Vùng Vịnh được nối lại, giá dầu giảm và chi phí chính trị đối với Nhà Trắng cũng giảm theo. Đến đầu tháng 7, Mỹ đánh giá đã có đủ dư địa để nối lại các hoạt động quân sự. Sau các vụ tấn công tàu thương mại ngày 7/7, Mỹ tiến hành không kích Iran và ngày 8/7, Tổng thống Donald Trump tuyên bố lệnh ngừng bắn đã chấm dứt.
Ông Vlad Paddack, nhà phân tích cấp cao của AKE International cho rằng cả Washington lẫn Tehran đều tập trung quá nhiều vào giá dầu Brent mà bỏ qua "điểm nghẽn" thực sự của thị trường năng lượng đó chính là công suất lọc dầu.
Trong tháng 6, các nước Vùng Vịnh xuất khẩu khoảng 4 triệu thùng dầu thô/ngày nhưng chỉ xuất khẩu khoảng 1 triệu thùng sản phẩm tinh chế, tương đương khoảng 25% so với trước chiến tranh, do nhiều nhà máy lọc dầu lớn tại Saudi Arabia, Bahrain, Kuwait và UAE vẫn chưa hoạt động bình thường.
Trong khi đó, tại châu Âu,Ukraine cũng đã điều chỉnh chiến lược quân sự của riêng mình. Kiev ngày càng tin rằng không thể tiếp tục phụ thuộc hoàn toàn vào sự hỗ trợ của Mỹ nên chuyển sang phát triển năng lực tấn công bằng máy bay không người lái tầm xa giá rẻ, có thể sản xuất với quy mô lớn. Mục tiêu được lựa chọn là hệ thống năng lượng của Nga.
Về phía Nga, Moscowtheo đuổi chiến lược tiêu hao, từng bước mở rộng lãnh thổ và duy trì sức ép thông qua đàm phán. Vì thế, thay vì đối đầu trực diện trên chiến trường, Ukraine lựa chọn đánh vào lĩnh vực năng lượng - nguồn tài chính duy trì hoạt động quân sự của Nga.
Theo ông Vlad Paddack, việc phá hủy các nhà máy lọc dầu có tác động trực tiếp hơn đối với đời sống người dân Nga so với việc tấn công các mỏ khai thác dầu.
Toàn bộ 11 nhà máy sản xuất xăng lớn nhất của Nga đều đã trở thành mục tiêu tấn công của Ukraine, trong đó có nhà máy lọc dầu Omsk và tổ hợp Gazprom Neftekhim Salavat. Việc nhiều nhà máy lọc dầu bị tấn công đã buộc Ngaphải xuất khẩu nhiều dầu thô hơn do không còn đủ công suất chế biến trong nước.
Trong tháng 6, xuất khẩu dầu thô bằng đường biển của Nga tăng lên khoảng 4,41 triệu thùng/ngày, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước, trong khi xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ giảm xuống còn khoảng 1,61 triệu thùng/ngày, thấp nhất từ trước tới nay.
Ngày 8/7, Moscow cũng quyết định cấm xuất khẩu dầu diesel nhằm bảo đảm nguồn cung trong nước. Động thái này khiến thị trường thế giới mất đi nhà xuất khẩu diesel vận chuyển bằng đường biển lớn nhất. Trong khi đó, lượng tồn kho nhiên liệu chưng cất tại Mỹ xuống mức thấp nhất trong hơn hai thập kỷ, còn dự trữ tại Tây Bắc châu Âu cũng giảm mạnh sau cuộc xung đột với Iran.
Theo nhà phân tích Vlad Paddack, hai cuộc xung đột hiện nay đã tạo thành một vòng xoáy tác động qua lại. Xung đột Iran khiến giá dầu tăng, qua đó giúp Nga tăng doanh thu xuất khẩu năng lượng. Điều này buộc Ukraine phải tiếp tục gia tăng các cuộc tấn công nhằm vào hệ thống lọc dầu Nga để duy trì sức ép.
Ngược lại, việc công suất lọc dầu của Nga bị thu hẹp khiến nguồn cung nhiên liệu tinh chế trên thị trường thế giới tiếp tục suy giảm, làm chi phí năng lượng tăng cao và khiến Mỹ phải đối mặt với áp lực chính trị lớn hơn nếu tiếp tục chiến dịch quân sự nhằm vào Iran. Vì thế không bên nào có thể dễ dàng rút khỏi vòng xoáy này.
Iran không còn coi eo biển Hormuz đơn thuần là công cụ mặc cả để đổi lấy việc nới lỏng trừng phạt, mà xem đây là yếu tố bảo đảm năng lực răn đe chiến lược.
Trong khi đó, ngay cả khi Mỹ có thể bảo đảm an ninh hàng hải tại Hormuz thì điều đó cũng chưa chắc giúp khôi phục hoạt động thương mại do chi phí bảo hiểm vận tải biển đã tăng mạnh sau các cuộc tấn công.
Về phía Ukraine, đây được xem là công cụ gây thiệt hại kinh tế lớn nhất đối với Nga kể từ khi xung đột bùng phát, nên Kiev khó có khả năng từ bỏ chiến lược này.
Theo ông Vlad Paddack, sai lầm lớn nhất của giới hoạch định chính sách là vẫn coi đây là những "xung đột khu vực".
Trên thực tế, chiến sự tại Iran đã làm giảm nguồn cung sản phẩm lọc dầu từ Vùng Vịnh, trong khi các cuộc tấn công của Ukraine làm suy giảm nguồn cung từ Nga. Hai tác động này không chỉ cộng dồn mà còn khuếch đại lẫn nhau do cùng làm suy yếu năng lực lọc dầu vốn đã hạn chế của thế giới.
Các công cụ điều hành truyền thống của chính phủ Mỹ chủ yếu tác động đến nguồn cung dầu thô, trong khi nút thắt thực sự lại nằm ở công suất chế biến. Việc xả kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược chỉ bổ sung thêm dầu thô nhưng không thể tạo thêm công suất lọc dầu. Hệ quả cuối cùng sẽ phản ánh vào giá dầu diesel, chi phí vận tải và giá hàng hóa tiêu dùng - những yếu tố tác động trực tiếp tới người dân cũng như môi trường chính trị tại Mỹ.
Do đó, các cuộc chiến hiện nay không còn là những cú sốc độc lập đối với thị trường năng lượng toàn cầu mà đã trở thành những mắt xích tác động lẫn nhau thông qua một hệ thống mà không bên nào kiểm soát hoàn toàn.
Câu hỏi lớn hiện nay không còn là điểm nghẽn tiếp theo sẽ xuất hiện ở đâu, mà là liệu thế giới có sẵn sàng đầu tư đủ nguồn lực để tăng khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng toàn cầu trước những cú sốc ngày càng khó tránh khỏi hay không.
Từ khóa: khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng năng lượng,Ukraine, Nga, Iran, Mỹ, tin chiến sự thế giới hôm nay, tình hình năng lượng thế giới hôm nay,thị trường năng lượng toàn cầu,công suất lọc dầu, an ninh năng lượng,chuỗi cung ứng năng lượng, chiến sự Mỹ Iran hôm nay, chiến sự Nga Ukraine hôm nay
Thể loại: Tin tức sự kiện
Tác giả: giang bùi/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN