Fed tăng lãi suất: Việt Nam cần chủ động ứng phó để giữ đà tăng trưởng
Cập nhật: 57 phút trước
Biển không chỉ là tài nguyên mà là không gian chiến lược của Việt Nam
Fed tăng lãi suất: Việt Nam cần chủ động ứng phó để giữ đà tăng trưởng
VOV.VN - Fed nâng lãi suất làm gia tăng áp lực lên tỷ giá, dòng vốn và chi phí vay tại Việt Nam, tạo thách thức cho ổn định vĩ mô và tăng trưởng. Theo chuyên gia tài chính Nguyễn Quang Huy, thay vì bị động chạy theo Fed, Việt Nam cần chủ động điều hành linh hoạt, kiểm soát rủi ro để giữ vững động lực tăng trưởng.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vừa nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản hồi tháng 9 vừa qua, đưa biên độ mục tiêu lên 3,75 - 4,00%, tạo thêm sức ép đối với tỷ giá, dòng vốn và chi phí tài chính toàn cầu. Trước thềm cuộc họp chính sách ngày 27 - 28/10 sắp tới, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng Việt Nam cần chủ động chuẩn bị nguồn lực, điều hành linh hoạt và phối hợp chính sách để kiểm soát rủi ro, giữ vững động lực tăng trưởng.
PV: Fed đã tăng lãi suất trong tháng 9 và thị trường đang theo dõi sát cuộc họp cuối tháng 10. Theo ông, nếu xu hướng thắt chặt tiếp diễn trong những tháng cuối năm, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động như thế nào?
Ông Nguyễn Quang Huy: Quyết định tăng lãi suất của Fed cho thấy áp lực lạm phát tại Mỹ vẫn là yếu tố được cơ quan điều hành tiền tệ nước này đặc biệt quan tâm. Theo lịch công bố của Fed, cuộc họp tiếp theo của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) diễn ra trong hai ngày 27 - 28/10/2026. Khả năng điều chỉnh lãi suất tiếp tục phụ thuộc vào diễn biến lạm phát, thị trường lao động và triển vọng kinh tế Mỹ. Vì vậy, Việt Nam cần theo dõi sát các tín hiệu chính sách, thay vì mặc định Fed chắc chắn sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Về cơ chế truyền dẫn, lãi suất USD tăng có thể khiến tài sản định giá bằng đồng tiền này trở nên hấp dẫn hơn, qua đó tạo sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Những tác động tiếp theo có thể lan sang chi phí huy động vốn, mặt bằng lãi suất và kỳ vọng lạm phát trong nước.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng không chỉ phụ thuộc vào quyết định của Fed. Sức khỏe nền kinh tế Việt Nam, cán cân thương mại, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dự trữ ngoại hối và thanh khoản hệ thống ngân hàng cũng là những yếu tố quan trọng quyết định khả năng hấp thụ cú sốc bên ngoài.
Điều đáng chú ý là quý IV thường có nhu cầu vốn và ngoại tệ tăng cao. Doanh nghiệp cần nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thanh toán đơn hàng quốc tế và chuẩn bị nguồn hàng cho chu kỳ kinh doanh mới. Do đó, việc chủ động cân đối ngoại tệ và thanh khoản ngay từ sớm có ý nghĩa thiết thực.
Theo tôi, Việt Nam không nên phản ứng cơ học với mỗi bước đi của Fed. Điều quan trọng là nhận diện đúng các kênh truyền dẫn, đánh giá sức ép thực tế và chuẩn bị đủ dư địa chính sách để ứng phó. Khi nền tảng trong nước vững chắc, những biến động từ bên ngoài sẽ có điều kiện được hấp thụ tốt hơn.
PV: Trong bối cảnh áp lực tỷ giá có thể gia tăng vào cuối năm, đâu là những giải pháp quan trọng để vừa ổn định thị trường ngoại hối, vừa hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh, thưa ông?
Ông Nguyễn Quang Huy: Theo tôi, cần triển khai đồng bộ từ điều hành vĩ mô đến quản trị rủi ro tại từng ngân hàng và doanh nghiệp.
Trước hết, điều hành tỷ giá cần linh hoạt, bám sát cung – cầu ngoại tệ và diễn biến thị trường quốc tế. Việc theo dõi sát dòng vốn, cán cân thương mại, nhu cầu thanh toán và thanh khoản hệ thống sẽ giúp cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá áp lực thực tế, từ đó lựa chọn phản ứng phù hợp.
Về phía các ngân hàng thương mại, cần chủ động cân đối nguồn ngoại tệ, quản trị thanh khoản và xây dựng phương án phòng ngừa rủi ro từ sớm. Đây không chỉ là yêu cầu quản trị của từng tổ chức tín dụng mà còn góp phần duy trì hoạt động thông suốt của thị trường ngoại hối trong giai đoạn nhu cầu tăng cao.
Doanh nghiệp cũng cần thay đổi cách tiếp cận với rủi ro tỷ giá. Với những đơn vị có nhu cầu ngoại tệ lớn, việc lập kế hoạch dòng tiền, xác định thời điểm thanh toán và trao đổi sớm với ngân hàng về các công cụ phòng ngừa rủi ro phù hợp sẽ giúp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh.
Mục tiêu không phải là dự đoán chính xác mọi biến động tỷ giá, mà là giảm sự bất định của chi phí, bảo vệ biên lợi nhuận và duy trì khả năng thực hiện các hợp đồng đã ký.
Tôi cho rằng, nếu ngân hàng và doanh nghiệp cùng nâng cao năng lực dự báo, minh bạch nhu cầu ngoại tệ và phân tán rủi ro hợp lý, sức ép từ thị trường quốc tế sẽ được kiểm soát tốt hơn. Đây cũng là cơ hội để nâng cao chất lượng quản trị tài chính, thay vì chỉ xử lý tình huống khi biến động đã xảy ra.
PV: Fed duy trì lãi suất cao cũng có thể thu hẹp dư địa nới lỏng tiền tệ trong nước. Ông có cho rằng Việt Nam nên điều hành lãi suất và tín dụng như thế nào để hài hòa mục tiêu ổn định vĩ mô với yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng hay không?
Ông Nguyễn Quang Huy: Cần nhìn nhận thực tế rằng dư địa giảm lãi suất ngay trong ngắn hạn có giới hạn, nhất là khi nhu cầu tín dụng thường tăng vào quý IV và các tháng đầu năm sau. Doanh nghiệp cần vốn để tăng tốc sản xuất, thanh toán các nghĩa vụ tài chính và chuẩn bị hàng hóa phục vụ thị trường Tết. Trong khi đó, ngân hàng phải bảo đảm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng nhưng vẫn duy trì các chỉ tiêu an toàn.
Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là giảm lãi suất nhanh đến đâu, mà là duy trì mặt bằng lãi suất ổn định, hợp lý và có khả năng dự báo. Một môi trường chi phí vốn ít biến động sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất, đầu tư và dòng tiền hiệu quả hơn.
Cùng với đó, tín dụng cần được phân bổ đúng địa chỉ, hướng tới những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có khả năng tạo giá trị gia tăng, việc làm và năng lực cạnh tranh. Khi dòng vốn đi vào hoạt động kinh tế thực chất, hiệu quả sử dụng vốn được nâng lên, hỗ trợ tăng trưởng mà không tạo thêm áp lực không cần thiết đối với ổn định vĩ mô.
Về lạm phát, cần đặc biệt chú trọng quản lý kỳ vọng giá cả. Cuối năm là thời điểm nhu cầu tiêu dùng và sản xuất cùng tăng, do đó cần theo dõi sát diễn biến giá năng lượng, lương thực, logistics và các yếu tố đầu vào. Bảo đảm nguồn cung hàng hóa, hạn chế những điểm nghẽn trong lưu thông và phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa sẽ giúp giảm áp lực lên mặt bằng giá.
Không nên đặt toàn bộ gánh nặng ổn định kinh tế lên chính sách tiền tệ. Chính sách tài khóa cần phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng thông qua các giải pháp phù hợp, trong khi chính sách tiền tệ tập trung giữ ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.
Theo tôi, sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách sẽ tạo hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng riêng lẻ từng công cụ. Đây là điều kiện để vừa ứng phó với những biến động bên ngoài, vừa duy trì nguồn lực cho tăng trưởng trong nước.
PV: Nhìn về những tháng cuối năm 2026 và triển vọng năm 2027, ông muốn nhấn mạnh điều gì trong chiến lược ứng phó của Việt Nam trước biến động chính sách tiền tệ quốc tế?
Ông Nguyễn Quang Huy: Tôi cho rằng phương châm phù hợp là: Phòng thủ chủ động, điều hành linh hoạt, phối hợp chính sách và phân tán rủi ro.
Phòng thủ chủ động nghĩa là chuẩn bị trước các kịch bản về tỷ giá, thanh khoản, dòng vốn và nhu cầu tín dụng, thay vì đợi sức ép xuất hiện mới tìm giải pháp. Điều hành linh hoạt là không rập khuôn theo chính sách của các nền kinh tế lớn, mà căn cứ vào điều kiện thực tế của Việt Nam để lựa chọn công cụ phù hợp. Phối hợp chính sách giúp hạn chế tình trạng một công cụ phải gánh quá nhiều mục tiêu; còn phân tán rủi ro đòi hỏi cả ngân hàng và doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị tài chính.
Cũng cần hiểu rằng ổn định kinh tế vĩ mô không đồng nghĩa với việc mọi biến số đều phải đứng yên. Ổn định thực chất là khả năng hấp thụ những biến động bên ngoài mà không làm suy giảm động lực tăng trưởng bên trong.
Trong bối cảnh kinh tế quốc tế còn nhiều bất định, Việt Nam cần tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, tăng cường khả năng dự báo và cải thiện chất lượng quản trị rủi ro. Những nỗ lực này không chỉ giúp ứng phó với diễn biến lãi suất của Fed mà còn nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc trong tương lai.
Nếu chuẩn bị tốt nguồn lực, điều hành nhất quán và phối hợp chính sách hiệu quả, Việt Nam có thể giảm thiểu tác động bất lợi từ môi trường tài chính quốc tế, đồng thời duy trì điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Đây chính là nền tảng quan trọng để giữ vững ổn định vĩ mô và tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững trong năm 2027.
PV: Xin cảm ơn ông!
Từ khóa: lãi suất, fed tăng lãi suất, ổn định kinh tế vĩ mô, áp lực tỷ giá, lãi suất, động lực tăng trưởng,lãi suất usd
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: trần ngọc/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN