Doanh nghiệp khó “chạm” chính sách, Việt Nam đối mặt nguy cơ “già trước khi giàu”

Cập nhật: 9 giờ trước

VOV.VN - Chính sách khoa học, công nghệ đã được ban hành nhưng không phải doanh nghiệp nhỏ nào cũng đủ khả năng tiếp cận và hưởng lợi. Trong khi đó, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ “già trước khi giàu”, buộc mô hình tăng trưởng phải thay đổi để dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.

Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận chính sách công nghệ

Theo PGS.TS. Phan Thị Bích Nguyệt, nghiên cứu 31 doanh nghiệp tại 7 tỉnh Đông Nam Bộ giai đoạn 2015-2024 cho thấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tạo tác động rõ nét đến tỷ suất sinh lợi. Dù đầu tư vào logistics và chuyển đổi số được đẩy mạnh, hiệu quả sinh lợi đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa tương xứng.

Một nguyên nhân quan trọng nằm ở năng lực hấp thụ chính sách. Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu kỹ năng quản trị, thiếu thông tin và nhân sự chuyên trách để tìm hiểu, tiếp cận các chương trình hỗ trợ. Vì vậy, dù Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng tiếp cận và thụ hưởng hiệu quả.

“Đây cũng chính là rào cản khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đến thời điểm này vẫn chưa thực sự mạnh được và lớn được”, bà Nguyệt nhận định.

Bên cạnh đó, đầu tư cho công nghệ, hạ tầng và đổi mới sáng tạo thường có độ trễ trước khi tạo ra hiệu quả kinh tế. Với nguồn lực tài chính hạn chế, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó duy trì hoạt động trong thời gian chờ đợi khoản đầu tư phát huy tác dụng.

Tâm lý e ngại rủi ro pháp lý cũng khiến doanh nghiệp dè dặt. Nhiều doanh nghiệp thiếu kiến thức pháp luật, thiếu tự tin khi tiếp nhận nguồn lực hỗ trợ, trong khi thủ tục còn phức tạp. Nếu thời gian và chi phí hoàn tất thủ tục quá lớn, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư vào công nghệ và đổi mới sáng tạo ngay cả khi chính sách đã được ban hành.

Chuyển từ hỗ trợ vốn sang giảm chi phí, giảm rủi ro

Từ thực tế này, PGS. TS Phan Thị Bích Nguyệt cho rằng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được thiết kế theo hướng thực chất hơn. Thay vì chỉ tập trung cấp trực tiếp một khoản vốn, Nhà nước có thể ưu tiên đầu tư vào những yếu tố giúp doanh nghiệp giảm chi phí hoạt động như logistics, chuyển đổi số và hạ tầng. Khi chi phí đầu vào giảm, doanh nghiệp sẽ có thêm dư địa hạ giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh và tích lũy nguồn lực cho đổi mới công nghệ.

Chính quyền địa phương cũng cần đóng vai trò tích cực hơn trong việc đưa chính sách đến gần doanh nghiệp. Các chương trình hỗ trợ cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và khả năng hấp thụ của từng nhóm doanh nghiệp, thay vì triển khai theo cách khiến doanh nghiệp khó tiếp cận.

Đặc biệt, Nhà nước cần đóng vai trò giảm rủi ro để kích hoạt nguồn vốn tư nhân. Doanh nghiệp luôn có nhu cầu đầu tư nhưng thường e ngại rủi ro pháp lý khi tham gia các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc giảm những rào cản này có thể tạo thêm động lực để nguồn vốn tư nhân tham gia vào quá trình đổi mới.

Một thay đổi quan trọng khác là cách đánh giá hiệu quả chính sách.

“Quản lý khoa học, công nghệ nên chuyển từ đánh giá đầu vào sang đánh giá hiệu quả thực tế”, PGS. TS Phan Thị Bích Nguyệt nhấn mạnh, đồng thời cho rằng “hiệu quả chính sách không nên chỉ được đo bằng số lượng đề tài, báo cáo hay chương trình nghiên cứu, mà phải thể hiện ở mức độ ứng dụng thực tế và số lượng doanh nghiệp được hưởng lợi”.

Nếu nguồn lực đầu tư công được gắn chặt hơn với kết quả đầu ra, chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ có khả năng chuyển hóa tốt hơn thành năng suất, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.

“Già trước khi giàu” và bài toán nguồn nhân lực

Không chỉ năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, những biến động về dân số và xã hội cũng đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh mô hình phát triển.

GS. TS, Giang Thanh Long, Giảng viên cao cấp, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, trong 40 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế và xã hội. Từ một quốc gia nghèo vào những năm 1980-1990, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và đang hướng tới nhóm thu nhập trung bình cao theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.

Tuy nhiên, trong 20 năm tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những xu hướng lớn có thể tác động trực tiếp đến tăng trưởng, nổi bật là già hóa dân số, di cư, sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu.

Đáng chú ý là tốc độ già hóa dân số. Việt Nam vừa có cơ cấu dân số “vàng”, vừa đang già hóa nhanh. Cơ cấu dân số vàng dự kiến đạt đỉnh vào năm 2039, sau đó giảm dần. Cùng thời điểm, Việt Nam sẽ chính thức bước vào giai đoạn dân số già khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm 14% tổng dân số.

“Già hóa nhanh trong khi mức thu nhập chưa cao làm gia tăng nguy cơ Việt Nam “già trước khi giàu”. Điều này đặt ra yêu cầu phải tận dụng hiệu quả giai đoạn dân số vàng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tích lũy của nền kinh tế”, GS. TS Giang Thanh Long bày tỏ.

Theo GS. TS Giang Thanh Long, Việt Nam cũng cần nhìn nhận đúng tiềm năng của “nền kinh tế bạc”. Đây không phải nguồn lực tự nhiên tự động xuất hiện khi dân số già hóa, mà cần được chuẩn bị từ sớm thông qua phát triển các sản phẩm, dịch vụ và hệ thống chăm sóc phù hợp với nhóm dân số cao tuổi.

Như vậy, bài toán dân số không chỉ là câu chuyện an sinh xã hội mà còn liên quan trực tiếp đến cấu trúc cung - cầu của nền kinh tế, thị trường lao động và động lực tăng trưởng dài hạn.

Không thể tách rời tăng trưởng với phát triển xã hội

Cùng với già hóa dân số, thị trường lao động Việt Nam vẫn tồn tại những điểm nghẽn như chất lượng lao động chưa cao, bẫy giá trị gia tăng thấp và tỷ lệ việc làm phi chính thức còn lớn. Chính sách bảo vệ lao động cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội cũng còn những khoảng trống.Trong khi đó, đô thị hóa và di cư đang làm thay đổi mạnh cấu trúc dân số giữa thành thị và nông thôn. Sự mở rộng của tầng lớp trung lưu tạo thêm động lực tiêu dùng nhưng cũng làm thay đổi nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ và chất lượng sống.

Chuyển đổi số mở ra cơ hội nâng cao năng suất và tạo ra những mô hình kinh doanh mới, nhưng nếu khả năng tiếp cận không đồng đều, quá trình này cũng có thể làm gia tăng khoảng cách giữa các nhóm dân cư. Biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ đến các quyết định đầu tư, cơ sở hạ tầng, việc làm và phân bổ nguồn lực.

“Để chuyển đổi thành công sang mô hình tăng trưởng và phát triển mới, Việt Nam không thể tách rời bài toán kinh tế với các vấn đề xã hội. Nếu không lựa chọn một giải pháp cân bằng giữa phát triển kinh tế, an sinh xã hội và hệ thống y tế, các thách thức nêu trên sẽ trở thành những rào cản vô cùng lớn đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai”, GS. TS Giang Thanh Long cảnh báo.

Từ góc độ doanh nghiệp đến nguồn nhân lực, điểm chung là yêu cầu nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế. Theo vị chuyên gia, doanh nghiệp cần được tạo điều kiện tiếp cận công nghệ và nguồn lực với chi phí thấp hơn, trong khi người lao động cần được chuẩn bị tốt hơn cho một thị trường lao động đang thay đổi nhanh.

Đây cũng là cơ sở để Việt Nam chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng nguồn lực sang mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Nếu các điểm nghẽn về chính sách, năng lực hấp thụ của doanh nghiệp và khả năng thích ứng xã hội được tháo gỡ, nguồn lực công và tư nhân sẽ có thêm điều kiện kết nối, qua đó tạo động lực mới cho tăng trưởng và phát triển bền vững trong dài hạn.

Từ khóa: Doanh nghiệp, Doanh nghiệp nhỏ và vừa, động lực tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển, Nghị quyết 19-NQ/TW

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: diệp diệp/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập