Công nghiệp hỗ trợ: Vì sao doanh nghiệp nội khó trở thành nhà cung ứng?

Cập nhật: 3 giờ trước

VOV.VN - Việt Nam có khoảng 7.000 DN công nghiệp hỗ trợ nhưng chỉ khoảng 1.000 DN đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các nhà lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia. Thiếu vốn dài hạn, công nghệ, nhân lực kỹ thuật và đơn hàng ổn định khiến DN nội khó vượt khỏi khâu gia công để tham gia vào chuỗi cung ứng.

Có 7.000 doanh nghiệp nhưng năng lực cung ứng còn hạn chế

Công nghiệp hỗ trợ giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực sản xuất tự chủ, giảm phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này chưa phản ánh đầy đủ khả năng cung ứng thực tế cho các tập đoàn sản xuất lớn.

Theo số liệu khảo sát, điều tra từ cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ của Bộ Công Thương, Việt Nam hiện có khoảng 7.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 88%. Chỉ khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho doanh nghiệp lắp ráp và các tập đoàn đa quốc gia, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 30%.

Năng lực cung ứng cũng có sự chênh lệch lớn giữa các ngành, tỷ lệ cung ứng linh kiện cho ngành xe máy đạt khoảng 85-95%; điện tử gia dụng đạt 30-60% tùy loại linh kiện; ô tô đạt 15-40%; thiết bị đồng bộ đạt 30-45%. Đối với công nghiệp công nghệ cao, tỷ lệ này mới khoảng 5-10%.

Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”, ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhận định, điểm nghẽn lớn không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng mà còn ở năng lực của doanh nghiệp Việt Nam tại những tầng có giá trị gia tăng cao.

Theo ông Nghị, nhiều doanh nghiệp còn khó khăn về vốn dài hạn, công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn, nhân lực kỹ thuật và năng lực nghiên cứu - phát triển. Liên kết giữa doanh nghiệp dẫn dắt với doanh nghiệp cung ứng, giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm kỹ thuật cũng chưa hình thành được hệ sinh thái thực sự hiệu quả.

Thực tế này cho thấy, để trở thành nhà cung ứng, doanh nghiệp không thể chỉ sản xuất được một loại linh kiện mà phải chứng minh khả năng đáp ứng ổn định các yêu cầu về kỹ thuật, giá thành, tiến độ giao hàng và quản trị chất lượng. Với những tập đoàn có hệ thống cung ứng toàn cầu, quá trình đánh giá nhà cung cấp thường đòi hỏi thời gian, nguồn lực và sự đầu tư liên tục.

Thiếu đơn hàng dẫn dắt, khó đầu tư nâng cấp công nghệ

Một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là bài toán đầu tư và đầu ra. Muốn tham gia chuỗi cung ứng, doanh nghiệp phải đầu tư máy móc, dây chuyền, hệ thống kiểm định và nhân lực kỹ thuật. Tuy nhiên, nếu chưa có đơn hàng đủ ổn định, việc bỏ ra nguồn vốn lớn để nâng cấp sản xuất tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Ngược lại, khi chưa đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật và sản lượng, doanh nghiệp khó được các tập đoàn lớn lựa chọn. Vòng luẩn quẩn giữa thiếu đơn hàng và thiếu năng lực sản xuất khiến nhiều doanh nghiệp tiếp tục tập trung vào các công đoạn gia công đơn giản, khó chuyển sang sản xuất những linh kiện, cụm chi tiết có giá trị cao hơn.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Để làm được điều này, cần cải thiện khả năng tiếp cận vốn dài hạn cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Các chương trình hỗ trợ nên gắn với nhu cầu thực tế của từng ngành, từng nhóm linh kiện và khả năng tham gia chuỗi cung ứng, tránh đầu tư dàn trải hoặc hỗ trợ những hạng mục chưa giải quyết đúng điểm nghẽn của doanh nghiệp.

Năng lực công nghệ cũng cần được nhìn nhận rộng hơn việc mua sắm máy móc. Theo ông Nguyễn Lê Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), hạn chế của doanh nghiệp không chỉ nằm ở máy móc, thiết bị mà còn ở năng lực nghiên cứu - phát triển, thiết kế, đổi mới sản phẩm và làm chủ công nghệ. Doanh nghiệp cần từng bước chuyển từ tiếp nhận, vận hành công nghệ sang cải tiến, thiết kế và phát triển sản phẩm.

Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần đi cùng hoạt động tư vấn kỹ thuật, đào tạo nhân lực, hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng và kết nối trực tiếp với doanh nghiệp đầu chuỗi. Các tập đoàn FDI cũng cần công khai yêu cầu kỹ thuật, tiêu chí đánh giá nhà cung ứng và tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm.

Thu hút FDI giúp mở rộng quy mô sản xuất, nhưng để tạo ra năng lực công nghiệp nội địa, doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn. Nếu không giải quyết được các điểm nghẽn về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn và đơn hàng, số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có thể tiếp tục tăng nhưng khả năng làm chủ chuỗi cung ứng vẫn khó cải thiện tương xứng.

Từ khóa: công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, nhà cung ứng Việt Nam, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, doanh nghiệp nội địa, doanh nghiệp FDI, năng lực sản xuất, công nghiệp chế tạo, phát triển công nghiệp hỗ trợ, vốn doanh nghiệp, tỷ lệ nội địa hóa, liên kết doanh nghiệp FDI

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: ánh phương/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập