Từ con giống đến sinh kế bền vững cho hộ nghèo ở Thanh Hóa
Cập nhật: 5 giờ trước
Hà Nội đặt nông nghiệp trong tổng thể phát triển Thủ đô và liên kết Vùng Thủ đô
Tiểu quách hài cốt liệt sĩ đầu tiên được đưa vào vị trí an táng tại nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM
VOV.VN - Từ hỗ trợ con giống đến hướng dẫn sản xuất, giám sát mô hình, các xã miền núi Thanh Hóa đang từng bước nâng cao hiệu quả giảm nghèo, giúp hộ nghèo, cận nghèo phát triển sinh kế, tạo thu nhập ổn định và hạn chế nguy cơ tái nghèo.
Với những địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, giảm nghèo không đơn thuần là đưa nguồn vốn hỗ trợ đến với người dân, mà quan trọng hơn là làm thế nào để nguồn lực ấy phát huy hiệu quả, tạo ra sinh kế phù hợp, giúp các hộ từng bước thoát nghèo bằng chính sức lao động của mình. Bởi vậy, tại xã Trung Sơn, công tác rà soát, lựa chọn đối tượng tham gia các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất được thực hiện thận trọng, đặt tính công khai, minh bạch và khả năng tổ chức sản xuất của từng hộ lên hàng đầu.
Ông Đỗ Phi Hùng, Chủ tịch UBND xã Trung Sơn, cho biết, trước khi đưa một hộ dân vào dự án giảm nghèo, địa phương không chỉ rà soát điều kiện, hoàn cảnh để bảo đảm lựa chọn đúng đối tượng, không bỏ sót những hộ đủ điều kiện thuộc diện nghèo, cận nghèo, mà còn trực tiếp tìm hiểu nhu cầu, nhân lực và khả năng duy trì mô hình sản xuất của từng gia đình.
Theo ông Hùng, một mô hình có thể phù hợp với hộ này nhưng chưa chắc đã hiệu quả với hộ khác. Vì vậy, việc khảo sát phải bám sát điều kiện thực tế, tránh tình trạng hỗ trợ theo phong trào hoặc chỉ chú trọng số lượng hộ được thụ hưởng mà chưa tính đến khả năng tổ chức sản xuất lâu dài.
“Chúng tôi phải hỏi cụ thể từng hộ về điều kiện lao động, phương án sản xuất và khả năng chăm sóc vật nuôi. Chẳng hạn, gia đình chỉ có một, hai lao động nhưng dự kiến thời gian tới sẽ đi làm công ty thì phải cân nhắc kỹ. Nếu không còn người chăm sóc vật nuôi, mô hình rất khó đạt hiệu quả. Hỗ trợ phải đúng nhu cầu, đúng điều kiện thực tế thì người dân mới có thể duy trì sản xuất và vươn lên thoát nghèo”, ông Hùng chia sẻ.
Cách làm này cho thấy, hiệu quả giảm nghèo không thể chỉ đánh giá bằng số hộ nhận hỗ trợ hay số lượng con giống được cấp phát. Điều quan trọng là nguồn lực ban đầu có được chuyển hóa thành sản phẩm, thu nhập và sinh kế ổn định hay không. Nếu thiếu khâu khảo sát, thẩm định, nguồn hỗ trợ dù được triển khai đúng quy trình vẫn có thể không đạt mục tiêu khi người dân không đủ nhân lực, kinh nghiệm hoặc điều kiện chăm sóc, chăn nuôi.
Tại Trung Sơn, quy trình lựa chọn hộ tham gia các dự án giảm nghèo được thực hiện từ cơ sở. Nội dung dự án được thông tin đến các bản để tổ chức họp dân, bình xét công khai. Các hộ được lựa chọn lập thành danh sách, kèm biên bản họp bản và hồ sơ dự án. Danh sách cùng những thông tin liên quan tiếp tục được công khai, niêm yết tại bản và UBND xã để người dân biết, theo dõi, giám sát.
Việc công khai ngay từ khâu lựa chọn đối tượng không chỉ góp phần bảo đảm quyền lợi của các hộ đủ điều kiện, hạn chế tình trạng lựa chọn thiếu khách quan mà còn tạo sự đồng thuận trong cộng đồng. Khi người dân được biết, tham gia bình xét và giám sát, chính sách hỗ trợ có thêm cơ sở để đi vào cuộc sống, hạn chế phát sinh tâm lý so bì trong quá trình thực hiện.
Sau bước bình xét tại bản, chính quyền xã tiếp tục kiểm tra, rà soát, thẩm định trước khi xây dựng và triển khai dự án. Các khâu từ xác định nhu cầu, lựa chọn mô hình, cung ứng con giống đến theo dõi quá trình sản xuất được thực hiện gắn kết, hướng tới mục tiêu hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả nguồn lực đầu tư.
Đối với xã vùng cao Trung Sơn, các mô hình chăn nuôi lợn nái đen sinh sản, bò sinh sản, nuôi cá lồng cùng các dự án chăn nuôi gà, vịt đang mở ra hướng phát triển sinh kế cho nhiều hộ nghèo, cận nghèo. Kết quả bước đầu cho thấy, khi con giống phù hợp, người dân có điều kiện chăm sóc và chủ động tổ chức sản xuất, nguồn hỗ trợ có thể tạo ra giá trị vượt ra ngoài khoản đầu tư ban đầu.
Theo thông tin từ UBND xã, dự án chăn nuôi lợn nái đen sinh sản có 46 hộ tham gia, trong đó 8 hộ đã thoát nghèo, cận nghèo. Con giống phát triển tốt, phần lớn đã sinh sản đến lứa thứ hai, tạo điều kiện để các hộ tiếp tục phát triển đàn, chủ động nguồn giống và từng bước hình thành nguồn thu từ chăn nuôi.
Đối với dự án chăn nuôi bò sinh sản bằng giống bò địa phương, có 25 hộ tham gia, trong đó 6 hộ đã thoát nghèo, cận nghèo. Đàn bò được đánh giá khỏe mạnh, phát triển tốt, phần lớn đã sinh sản lứa đầu tiên. Đây là tín hiệu tích cực đối với những hộ có điều kiện chăn nuôi, bởi bò sinh sản không chỉ tạo thêm tài sản mà còn mở ra khả năng tăng đàn, bán bê giống hoặc bê thương phẩm để cải thiện thu nhập.
Trong khi đó, dự án nuôi cá lồng có 23 hộ tham gia, đến nay có một hộ thoát cận nghèo. Các dự án chăn nuôi gà, vịt cũng được triển khai với con giống bảo đảm sức khỏe, trọng lượng và chủng loại theo yêu cầu, hiện phát triển tốt.
Anh Lương Văn Phịch, trú tại bản Bó, là một trong những hộ được hưởng lợi từ dự án chăn nuôi bò cái vàng sinh sản thuộc Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025. Từ khi được hỗ trợ bò đến nay, vật nuôi đã sinh sản, tạo thêm nguồn lực để gia đình phát triển kinh tế.
Còn anh Lương Văn Ban bày tỏ sự biết ơn trước sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước và chính quyền địa phương. Anh cho biết, việc được tham gia dự án hỗ trợ phát triển sản xuất “Chăn nuôi lợn nái đen sinh sản xã Trung Sơn”, thuộc Tiểu dự án 2, Dự án 3 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2024, giúp gia đình có thêm điều kiện sản xuất, đồng thời tạo động lực để quyết tâm lao động, phát triển kinh tế, phấn đấu thoát nghèo trong năm tới.
Những con số trên phản ánh kết quả bước đầu của các mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất tại địa phương. Tuy nhiên, giữa các mô hình vẫn có sự khác biệt về thời gian tạo thu nhập, mức độ rủi ro và khả năng tích lũy. Với vật nuôi sinh sản, người dân cần thời gian gây đàn, chăm sóc con non và hình thành nguồn thu ổn định. Trong khi đó, hiệu quả nuôi cá lồng còn phụ thuộc vào điều kiện mặt nước, kỹ thuật chăm sóc và thị trường tiêu thụ. Do đó, kết quả giảm nghèo cần được đánh giá gắn với đặc điểm từng mô hình, tránh chỉ nhìn vào số liệu tại một thời điểm để kết luận về tính bền vững.
Từ thực tiễn triển khai, ông Đỗ Phi Hùng cho rằng, chăn nuôi luôn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh, thời tiết, kỹ thuật chăm sóc và biến động thị trường. Vì vậy, không thể kỳ vọng mọi hộ tham gia đều đạt kết quả giống nhau. Theo ông, nếu khoảng 70-80% mô hình đạt hiệu quả thì đã là kết quả đáng ghi nhận. Điều quan trọng là phải tiếp tục theo dõi, kịp thời tháo gỡ khó khăn và hạn chế thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra.
Để nguồn lực hỗ trợ phát huy hiệu quả, xã Trung Sơn xác định trách nhiệm không chỉ thuộc về cơ quan tổ chức thực hiện mà còn gắn với trưởng bản, đại diện nhóm hộ và từng gia đình tham gia dự án.
UBND xã là đơn vị được giao dự toán, trực tiếp quản lý, điều hành và chỉ đạo thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Cùng với việc tổ chức triển khai, địa phương có trách nhiệm thực hiện các khâu thẩm định, phê duyệt, nghiệm thu, thanh quyết toán và giám sát dự án theo quy định; đồng thời hướng dẫn, hỗ trợ các nhóm hộ tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện.
Ở cấp bản, trưởng bản có trách nhiệm tiếp nhận, phổ biến đầy đủ nội dung dự án đến người dân; phối hợp với đại diện nhóm hộ và chính quyền xã trong những công việc cần xác nhận, giám sát. Việc đôn đốc, theo dõi tiến độ thực hiện tại địa bàn cũng là khâu quan trọng nhằm kịp thời phát hiện vấn đề phát sinh, tránh để khó khăn kéo dài, ảnh hưởng đến hiệu quả mô hình.
Đối với đại diện nhóm hộ, trách nhiệm được đặt ra cụ thể hơn, từ ký kết hợp đồng thực hiện dự án với UBND xã và đơn vị cung ứng đến quản lý, phân phối con giống, vật tư, hàng hóa, dịch vụ; theo dõi tiến độ và báo cáo tình hình triển khai. Các khoản kinh phí, tài sản và vật tư hỗ trợ phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, có hồ sơ, chứng từ theo quy định. Những vướng mắc cần được phản ánh kịp thời để cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Việc phân định rõ trách nhiệm ở từng cấp, từng khâu góp phần hạn chế tình trạng khoán trắng cho người dân sau khi cấp phát hỗ trợ. Đồng thời, cơ chế phối hợp giữa chính quyền, trưởng bản, đại diện nhóm hộ và các hộ thụ hưởng tạo điều kiện để quá trình triển khai dự án được giám sát thường xuyên, công khai và sát thực tế.
Để những mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất thực sự trở thành sinh kế bền vững, việc cấp con giống mới chỉ là bước khởi đầu. Người dân cần tiếp tục được hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi sức khỏe vật nuôi, hỗ trợ xử lý khó khăn trong quá trình sản xuất và kết nối đầu ra cho sản phẩm. Khi các khâu này được thực hiện đồng bộ, nguồn lực hỗ trợ mới có thể phát huy hiệu quả lâu dài, giúp các hộ nghèo, cận nghèo từng bước nâng cao thu nhập và chủ động hơn trên hành trình thoát nghèo.
"Giảm nghèo không chỉ là trao con giống, mà quan trọng hơn là giúp người dân có thể duy trì sản xuất và tạo thu nhập lâu dài. Tại xã Trung Sơn,trước khi đưa hộ dân vào dự án, chính quyền phải tìm hiểu cụ thể điều kiện lao động, nhu cầu và khả năng chăm sóc vật nuôi của từng gia đình. Bởi nếu hộ chỉ có một, hai lao động nhưng sắp đi làm công ty, không còn người chăm sóc vật nuôi thì mô hình rất khó đạt hiệu quả. Hỗ trợ đúng người, sát thực tế là bước đầu để hạn chế nguy cơ tái nghèo", ông Đỗ Phi Hùng, Chủ tịch UBND xã Trung Sơn cho biết.
Từ khóa: giảm nghèo, VOV, Giảm nghèo bền vững, Thanh Hóa, hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế hộ nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Thể loại: Xã hội
Tác giả: ctv minh châu/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN