Chủ tịch Quốc hội: Cơ chế đặc biệt không thể thành lối đi thường xuyên
Cập nhật: 10 giờ trước
Đánh thuế đất bỏ hoang, miễn thuế suất ăn: Làm sao để chính sách đến đúng người?
Ninh Bình tiếp tục giảm 1 sở, tái cơ cấu y tế, giáo dục, văn hóa, nông nghiệp
VOV.VN - Cho ý kiến thảo luận tại tổ trong sáng nay (23/10) về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, cơ chế đặc biệt là "van an toàn", không thể thành lối đi thường xuyên.
Thảo luận tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã ví, Quốc hội đã mở cho Chính phủ một "làn tốc hành", chưa có tiền lệ nhằm tháo gỡ những vướng mắc, mà không phải chờ đợi lâu.
Hơn 1 năm đã thông qua 26 nghị quyết, 550/786 phản ánh, kiến nghị được xử lý. Riêng 5 nghị quyết cắt giảm thủ tục, điều kiện kinh doanh đã tiết kiệm khoảng 23.000 tỷ đồng mỗi năm.
Tuy nhiên, theo Chủ tịch Quốc hội, việc thực hiện Nghị quyết vẫn còn nút thắt. Đó là việc 26 nghị quyết kéo dài theo yêu cầu sửa 317 văn bản, nhưng mới xử lý được 112 văn bản. Văn bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xử lý 36/79. Văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn tồn 109/152. Chậm nhất lại ở chính nơi đề xuất cơ chếđó là các bộ, ngành. Đáng lo hơn, con số báo cáo nêu 317 văn bản nhưng phụ lục lại thể hiện 424 văn bản; 8 dự án luật đang trình cũng được tính là đã xử lý là không đúng. Chủ tịch Quốc hội lo ngại, số liệu chưa đúng thì không quản trị được tiến độ, càng không quy được trách nhiệm.
Đồng tình kéo dài hiệu lực các văn bản ban hành theo cơ chế đặc biệt đến ngày 31/12/2027 để không tạo khoảng trống pháp lý, Chủ tịch Quốc hội đề nghị, nghị quyết kỳ họp phải ghi thật rõ: Gia hạn một lần, không có lần thứ hai; Phụ lục danh mục từng nghị quyết được kéo dài; từng nghị quyết đã luật hóa thì chấm dứt, kèm cơ quan chủ trì, thời hạn. Văn bản sửa đổi có hiệu lực chậm nhất là ngày 1/1/2028; Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến độ định kỳ. Bộ, ngành nào chậm thì người đứng đầu phải giải trình. Gia hạn là để hoàn thành, không phải để hoãn.
Chủ tịch Quốc hội đã nêu câu chuyện thực tế của Nghị quyết 6613 về công bố đăng ký sản phẩm thực phẩm ban hành chưa đầy 3 tháng đã phải tạm ngưng vì chi phí tuân thủ và quy định chuyển tiếp không khả thi. Hay doanh nghiệp và cán bộ một cửa chưa quen quy trình cũ lại phải học quy trình mới. Có thủ tục đã bỏ trên văn bản nhưng chưa cập nhật lên Cơ sở dữ liệu quốc gia, chưa tái cấu trúc quy trình điện tử, người dân vẫn chưa được hưởng. Người đứng đầu cơ quan lập pháp cho rằng, cải cách phải thực chất, không chỉ nhanh mà còn phải khả thi, phải đơn giản, làm được, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện.
Trên tinh thần đó, theo Chủ tịch Quốc hội, không nên đếm số thủ tục cắt giảm hay số nghị quyết ban hành, mà phải đo bằng thời gian, chi phí thực tế tiết kiệm được của người dân, doanh nghiệp và mức độ hài lòng.
“Luật hóa cơ chế ủy quyền lập pháp phải rất thận trọng: Đây là vấn đề nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Cơ chế đặc biệt là "van an toàn", không thể thành lối đi thường xuyên. Ngoại lệ mà thành thông lệ thì kỷ cương lập pháp bị bào mòn, sự ổn định của pháp luật, điều nhà đầu tư cần nhất sẽ bị tổn hại. Kết luận 09 của Bộ Chính trị mới yêu cầu nghiên cứu, chưa đặt ra luật hóa ngay. Nếu thực sự cần, đề nghị thiết kế, Chính phủ đề xuất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định; chỉ áp dụng khi khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp; có thời hạn; loại trừ các lĩnh vực về quyền con người, quyền công dân, tội phạm, thuế; trình Quốc hội tại kỳ họp gần nhất để phê chuẩn hoặc bãi bỏ”, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.
Chủ tịch Quốc hội lưu ý, 786 phản ánh, kiến nghị là 786 lời nhắc rằng, vướng mắc trước hết sinh ra từ chất lượng làm luật và chất lượng làm luật ở cơ quan soạn thảo, thẩm tra. Vì thế, cách bền vững nhất không phải là dùng đến cơ chế đặc biệt, mà mỗi đạo luật ngay từ đầu phải rõ ràng, khả thi. Đó là trách nhiệm của Chính phủ và trước hết là của chính Quốc hội.
Góp ý vào dự án Luật văn bản quy phạm pháp luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫnghi nhận và đánh giá cao Chính phủ trong thời gian ngắn đã nghiêm túc tiếp thu Kết luận 296 của Thường vụ Quốc hội ngày 08/10/2026, ý kiến thẩm tra sơ bộ và chỉnh lý hồ sơ trình Quốc hội.
Nhiều nội dung đã được tiếp thu như: Thu hẹp phạm vi cơ chế điều chỉnh của luật, không mở rộng sang các nội dung kỹ thuật; Bổ sung việc sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh ngay tại phiên họp; Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp công phu, thẳng thắn, chỉ đúng những chỗ còn vướng.
Chủ tịch Quốc hội quan tâm đến 5 vấn đề, đó là cơ chế để Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật là vấn đề lớn nhất vì chạm vào nguyên tắc hiến định (Khoản 1 Điều 70 Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất làm luật và sửa luật). Dự thảo chưa phân định rõ cơ chế này với Điều 47, chưa có phương án xử lý nếu Quốc hội không đồng ý với văn bản đã ban hành thì Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tình trạng khẩn cấp đã quy định rõ "van an toàn" cho tình huống khẩn cấp. Nếu thật cần thiết, chỉ giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ sở đề nghị của Chính phủ, kèm điều kiện chặt, phạm vi hẹp, có thời hạn và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Chủ tịch Quốc hội cho rằng, không để Chính phủ ban hành nghị định để sửa luật, càng không để Chính phủ tự quy định trình tự cho việc đó.
Chủ tịch Quốc hội tán thành nguyên tắc "mỗi chủ thể một hình thức" từ ngày 1/3/2027, nhưng không thể chuyển ghép cơ học nội dung nghị quyết vào luật, pháp lệnh đến mức phải ban hành cả một đạo luật chỉ để tạm ngưng hiệu lực của một đạo luật khác. Theo đó, cần xác định rõ vị trí pháp lý của trình tự ban hành các nghị quyết không còn là văn bản quy phạm pháp luật, nhất là nghị quyết về tài chính, ngân sách, động viên tình trạng khẩn cấp; Lường vướng mắc Khoản 2 Điều 74 Hiến pháp nói rõ “Pháp lệnh chỉ ban hành vấn đề Quốc hội giao, nên dễ làm chậm phản ứng chính sách”; Rà soát, sửa ngay các luật liên quan để không quên.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh: “Không đánh đổi chất lượng để lấy tốc độ. Dự thảo đang lược bỏ thẩm quyền chính sách, bỏ báo cáo tổng kết, báo cáo rà soát hồ sơ, đưa đánh giá tác động thành nội dung tùy chọn. Điều này chưa phù hợp yêu cầu kỹ lưỡng, thực chất, khoa học của Nghị quyết 66 của Trung ương. Rút gọn thủ tục không có nghĩa là rút gọn trách nhiệm. Đề nghị giữ thẩm định chính sách quy trình 2 trong 1 và trình tự rút gọn phải có tiêu chí cấp bách rõ ràng để tránh làm dụng việc "đi tắt" quy trình”.
Bên cạnh đó, để thể chế hóa đầy đủ Kết luận 09 của Trung ương, Dự thảo còn thiếu: Giá trị pháp lý của án lệ, tập quán, lẽ công bằng; Nguyên tắc ưu tiên áp dụng văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành; Yêu cầu văn bản phải nêu rõ mục đích ban hành; Nguyên tắc chỉ có luật mới được hạn chế quyền, đặt nghĩa vụ mới, quy định chế tài; Điều 65 về đánh giá hiệu quả thi hành phải có chu kỳ, tiêu chí công khai, kết quả gắn với trách nhiệm sửa luật.
Nhấn mạnh, đây là đạo luật gốc quyết định chất lượng của cả hệ thống pháp luật, nên đây phải là đạo luật mẫu, chuẩn về thẩm quyền, chặt chẽ về quy trình, rõ trách nhiệm, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu, Chính phủ chỉ đạo cơ quan soạn thảo phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tiếp thu tối đa ý kiến đại biểu. Với những vấn đề còn ý kiến khác nhau, cần xây dựng phương án cụ thể báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi trình Quốc hội quyết định.
Từ khóa: Cơ chế đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội, Nghị quyết, triển khai thực hiện Nghị quyết, Quốc hội, Cơ chế đặc biệt không thể thành lối đi thường xuyên,pháp luật
Thể loại: Nội chính
Tác giả: lê tuyết/vov
Nguồn tin: VOVVN