Bảo tồn và phát triển lúa Việt: Hành trình từ di sản đến thịnh vượng

Cập nhật: 3 giờ trước

VOV.VN - Việt Nam là cái nôi của văn minh lúa nước, nơi hạt gạo không chỉ là lương thực mà còn là di sản tâm hồn dân tộc. Từ bữa cơm gia đình ấm cúng đến các nghi lễ tâm linh hay mâm cỗ Tết cổ truyền, chén cơm ngon luôn là biểu tượng cho sự no đủ, đoàn kết sum vầy của người dân Việt.

Từ nền văn minh lúa nước hàng nghìn năm, người dân Miền Tây Châu thổ đã kế thừa, phát triển; hình thành vùng sản xuất lúa gạo trọng điểm như hiện nay. Cây lúa trở thành trụ cột sinh kế, đồng thời là nền tảng hình thành diện mạo nông nghiệp.

Từ ký ức đồng quê đến phòng thí nghiệm, từ bờ ruộng Miền Tây đến thị trường thế giới, hạt gạo Việt đi qua bao thăng trầm để khẳng định giá trị, mang theo tri thức khoa học, mồ hôi nông dân và khát vọng thịnh vượng bền lâu.

Kỹ sư Lê Quốc Việt, người được biết đến với biệt danh “ông Tư Lúa mùa” đã dành gần như cả cuộc đời mình để lần tìm lại những giống lúa mùa cổ truyền, kể câu chuyện bảo tồn như một mạch chảy lặng lẽ nhưng bền bỉ. Theo ông, giá trị mà ông cha ta để lại không chỉ nằm ở các giống lúa mà còn ở hệ tri thức nông nghiệp gắn với cách sống của cư dân vùng sông nước. Những giống lúa mùa từng thích nghi hàng thế kỷ là nguồn gen quý, mỗi giống lúa mang theo một câu chuyện văn hóa.

Trong khi nhiều người theo đuổi giống mới, ông Việt chọn cách quay về lúa mùa để phục dựng đời sống nông nghiệp truyền thống. Với ông, lúa mùa là cánh cửa dẫn vào lịch sử nông nghiệp Việt Nam.

Từ góc nhìn của người làm lúa giống, anh hùng lao động, Kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả giống lúa ST25 vừa tiếp tục nhận giải nhất gạo ngon nhất thế giới 2025 kể lại một giai đoạn buồn vui đan xen của vùng lúa tôm.

Ông Cua nhớ lại, sau năm 2005, nhiều người dân quay lưng với cây lúa để nuôi tôm vì 1kg tôm có giá trị bằng 60-70 kg lúa. Cánh đồng lúa vắng dần, làng quê thiếu đi những buổi chiều khói lam, thiếu cả nhịp sống yên bình. Môi trường mất cân bằng, vụ tôm thất bát, tệ nạn nông thôn tăng lên. Ông vẫn nhớ như in, những năm ấy, nông dân ở Hòa Tú quê ông phải chạy vạy đi mua gạo ăn, một hình ảnh khiến ông không quên được.

Nhưng chỉ 5 năm sau, khi môi trường mất cân bằng, con tôm suy kiệt, người dân mới chợt nhận ra giá trị bền vững của cây lúa. Từ 800 ha ban đầu, mô hình lúa tôm dần được khôi phục lên hơn 2 ngàn ha, đến năm thứ 3, những mùa gặt rộn ràng lại trở về.

Đến nay, ông trở lại vùng lúa tôm và đã nhìn thấy những cánh đồng liền lạc từ Kiên Giang tới giáp Cà Mau. Khoảng 120.000 ha đang canh tác ST24 và ST25, tạo nền tảng ổn định cho sinh kế của người dân và giảm rủi ro trong nuôi tôm.

Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL nhớ lại giai đoạn Viện thành lập năm 1977, khi đồng bằng chủ yếu trồng lúa mùa một vụ, diện tích chỉ 1,7 - 2 triệu hecta với sản lượng 5 - 7 triệu tấn. Một số giống cải tiến như Thần Nông 8 đã được nhập khẩu vào nhưng chưa đủ tạo chuyển biến.

Giống lúa OM80 được công nhận chính thức năm 1988 đã mở ra cánh cửa mới, mở đường cho khả năng tự chủ lương thực. Đến năm 1989-1990, Việt Nam chính thức bước vào thị trường xuất khẩu gạo. Ngày nay, những giống như OM18, OM5451, Đài Thơm 8 trở thành trụ cột, đóng góp tới 80-90% sản lượng xuất khẩu, gần 9 triệu tấn mỗi năm từ ĐBSCL.

Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch chia sẻ: “Câu chuyện lai tạo giống lúa thì còn dài lắm. Từ vấn đề ăn no, thời gian sinh trưởng ngắn, chúng ta dần dần đã nâng cao hiệu quả sản xuất bằng các giống chống chịu sâu bệnh, giống chống chịu điều kiện bất lợi của môi trường. Dần dần tới câu chuyện ăn ngon. Đến nay, chúng ta rất tự hào đã tham gia sâu vào thị trường xuất khẩu gạo. Tiêu thụ lúa gạo hàng năm khoảng 50 triệu tấn hàng hóa, lúa gạo trao đổi thương mại. Phân khúc lớn nhất là gạo trắng hạt dài, phân khúc này gần như chúng ta chiếm lĩnh thị trường. Các giống lúa của chúng ta ngon, chi phí sản xuất thấp. Đây là phân khúc mang lại lợi nhuận tốt nhất cho người nông dân so với nhiều nơi khác trên thế giới”.

Tiến sĩ Thạch còn cho biết, hiện Viện hiện lưu giữ hơn 3.500 mẫu giống lúa mùa và hơn 150 mẫu lúa hoang. Đây được xem như kho ký ức di truyền của “vựa lúa” đồng bằng. Từ nền tảng này, Viện phát triển vùng lúa tài nguyên khoảng 30.000 hecta và thực hiện trẻ hóa giống định kỳ để giữ chất lượng ổn định.

Nếu câu chuyện của các nhà khoa học là hành trình của tri thức, chia sẻ của Tiến sĩ Đỗ Khắc Thịnh, người từng làm việc ở Viện lúa ĐBSCL, rồi sau này ở Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam, lại mang đậm chiều sâu văn hóa. Theo ông Thịnh, Việt Nam là một trong những cái nôi của lúa nước với đầy đủ các dạng lúa như lúa cạn, lúa nước, lúa phèn, lúa mặn, lúa nổi, lúa ma... Chính sự phong phú đó đã tạo nền tảng cho công tác chọn tạo giống suốt nhiều thập kỷ.

Ông cha ta đã nói, đầu tiên phải có ăn. Ăn mặc, ăn học, ăn chơi. Và cái ăn phải bắt đầu từ cây lúa, lúa gạo. Bởi vì gạo cung cấp 50% năng lượng cho Châu Á. Nói về ăn thì theo lịch sử Việt Nam mình, từ ăn đói mặc rét đến ăn no mặc ấm, đến ăn ngon mặc đẹp, đến ăn sang mặc sang. Đến bây giờ, tùy theo hoàn cảnh kinh tế nhưng lúc nào cũng gắn liền với cây lúa. Mặc dù cây lúa không cho chúng ta giàu có, nhưng cho chúng ta sự bền vững. Đối với những người tạo ra giống lúa hay người sản xuất v.v..nếu có tình cảm với cây lúa thì cây lúa bao giờ cũng trả ơn cho chúng ta.

Ngày nay, Việt Nam liên tục nằm trong nhóm những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, với sản lượng hàng triệu tấn mỗi năm, góp mặt tại hơn 150 quốc gia, vùng lãnh thổ. Thương hiệu gạo Việt ngày càng được khẳng định, không chỉ bởi số lượng mà còn bởi chất lượng, với những giải thưởng quốc tế danh giá dành cho gạo thơm, gạo hữu cơ, gạo đặc sản. Điều này vừa khẳng định vị thế kinh tế, vừa nâng cao uy tín quốc gia, đồng thời mang lại thu nhập ổn định cho hàng triệu hộ nông dân.

Những giống lúa mới chịu hạn, chịu mặn, thơm ngon và giàu dinh dưỡng được lai tạo, nhân rộng, giúp Việt Nam không chỉ tự tin đảm bảo an ninh lương thực mà còn vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu gạo.

Hành trình của lúa gạo Việt, của vùng Châu thổ Cửu Long không dừng lại ở những con số xuất khẩu. Trong bối cảnh toàn cầu đang đối diện với thách thức của biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và phát triển bền vững, ngành lúa gạo Việt Nam đã, đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng xanh, sạch, trách nhiệm với môi trường.

Hạt gạo hôm nay không chỉ là kết quả của một nền văn minh nông nghiệp lâu đời, mà còn là biểu tượng của niềm tin, niềm tự hào; là cam kết của Việt Nam đối với một tương lai xanh, thịnh vượng và nhân văn.

Từ khóa: lúa gạo Việt Nam, lúa gạo Việt Nam, văn minh lúa nước, bảo tồn lúa mùa, xuất khẩu gạo Việt Nam, gạo ngon nhất thế giới, giống lúa ST25, kỹ sư Hồ Quang Cua, ông Tư Lúa mùa Lê Quốc Việt, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, lúa tôm miền Tây, an ninh lương thực, giống lúa OM18, lịch sử ngành lúa gạo, biến đổi khí hậu nông nghiệp, nông nghiệp bền vững, thương hiệu gạo Việt, tri thức bản địa, canh tác lúa xanh, giá trị hạt gạo Việt, thịnh vượng nông thôn,lúa Việt

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: thanh tùng/vov-đbscl

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập