Bắc Ninh kỳ vọng tăng trưởng mạnh nhờ những nhà máy tỷ đô

Cập nhật: 36 phút trước

VOV.VN - Bắc Ninh tăng trưởng 11,81% trong 9 tháng năm 2026, nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước khi dòng vốn FDI tiếp tục chảy mạnh vào công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghệ cao.


Sau hợp nhất và trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, bài toán của Bắc Ninh không chỉ là thu hút thêm những dự án tỷ USD, mà là tăng phần giá trị được giữ lại trong nền kinh tế.

Một dây chuyền sản xuất robot hình người đang được Foxconn chuẩn bị tại Bắc Ninh. Ở KCN Gia Bình, Cooler Master sản xuất thiết bị tản nhiệt cho máy chủ trí tuệ nhân tạo và dự kiến đầu tư thêm tổ hợp khoảng 240 triệu USD có trung tâm R&D, đào tạo kỹ thuật. Tại Yên Phong, Amkor tiếp tục mở rộng sản xuất, lắp ráp và kiểm thử bán dẫn.

Robot, thiết bị cho máy chủ AI, bán dẫn đang nối tiếp điện thoại, máy tính và linh kiện điện tử trong các khu công nghiệp Bắc Ninh. Chín tháng năm 2026, GRDP thành phố tăng 11,81%, đứng thứ tư cả nước. Sau hợp nhất Bắc Ninh - Bắc Giang, quy mô địa giới thay đổi nhanh hơn cấu trúc kinh tế: chế biến, chế tạo và FDI vẫn là hai lực kéo chính.

Vốn cũ tăng nhanh hơn vốn mới

Công nghiệp và xây dựng của Bắc Ninh tăng 13,87% trong 9 tháng; riêng chế biến, chế tạo tăng 17,17%. Theo Cục Thống kê, doanh thu của một số doanh nghiệp chế biến, chế tạo lớn tăng mạnh: FuYu khoảng 94%, Siflex 34,8%, Luxshare 30%, Samsung khoảng 16%.

6 tháng đầu năm, các khu công nghiệp Bắc Ninh thu hút khoảng 515,5 triệu USD vốn FDI cấp mới, trong khi các dự án đang hoạt động tăng thêm hơn 1,626 tỷ USD, gấp hơn ba lần. Bắc Ninh cũng dẫn đầu cả nước về số lượt dự án FDI điều chỉnh vốn trong nửa đầu năm.

Nhà đầu tư mới có thể đến vì vị trí, ưu đãi hay chi phí. Doanh nghiệp đã hoạt động nhiều năm, hiểu rõ hạ tầng, lao động, nguồn điện và thủ tục nhưng vẫn tiếp tục rót vốn là một chỉ dấu khác.

Tại Diễn đàn Kết nối FDI 2026, Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Phạm Hoàng Sơn cho biết địa phương có khoảng 3.500 dự án FDI của nhà đầu tư đến từ 46 quốc gia, vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký hơn 49 tỷ USD. Bắc Ninh đang chuyển sang thu hút đầu tư có chọn lọc, lấy “chất lượng, hiệu quả và tính bền vững” làm tiêu chí.

Sự thay đổi bắt đầu xuất hiện ở một số dự án. Cooler Master tại KCN Gia Bình đang sản xuất thiết bị tản nhiệt cho máy chủ AI. Doanh thu năm 2025 khoảng 30 triệu USD, nhưng 5 tháng đầu năm nay đã đạt khoảng 57 triệu USD. Doanh nghiệp dự kiến đầu tư dự án mới khoảng 240 triệu USD, kèm trung tâm R&D và cơ sở đào tạo kỹ thuật.

Với bán dẫn, vấn đề không dừng ở vốn. Trong cuộc làm việc với lãnh đạo Bắc Ninh, ông Kim Sung Hun, Tổng Giám đốc Amkor Technology Việt Nam, cho biết doanh nghiệp sẽ tiếp tục mở rộng sản xuất tại Bắc Ninh và đề nghị địa phương quan tâm chính sách hỗ trợ ngành bán dẫn, giữ chân lao động, bảo đảm nguồn năng lượng cho nhà máy.

Đó cũng là những điều kiện để các dự án công nghệ cao tiếp tục mở rộng tại Bắc Ninh. Nhà máy bán dẫn hay trung tâm R&D cần điện ổn định, kỹ sư có trình độ, nhà cung ứng đủ năng lực và dịch vụ kỹ thuật đi kèm. Đất sạch và thủ tục nhanh vẫn cần, nhưng không còn là lợi thế đủ lớn.

Khác nhau ở cấu trúc tăng trưởng

Trong 9 tháng của năm 2026, Quảng Ninh tăng trưởng 12,54%, Hải Phòng 12,08%, Bắc Ninh 11,81%. Ba địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu nhưng cấu trúc kinh tế khác nhau.

Hải Phòng có nền công nghiệp lớn gắn trực tiếp với cảng biển và logistics. Sau hợp nhất với Hải Dương, dân số thành phố vượt 4,6 triệu người. 9 tháng, lượng hàng qua cảng khoảng 156,3 triệu tấn, xuất khẩu ước 43,72 tỷ USD, thu hút FDI hơn 3,6 tỷ USD. Cảng biển tạo cho công nghiệp Hải Phòng một cửa ngõ trực tiếp ra thị trường quốc tế.

Quảng Ninh có nhiều nguồn tăng trưởng hơn với công nghiệp, dịch vụ, du lịch, cửa khẩu và kinh tế biển. Trong 9 tháng, địa phương đón khoảng 18,8 triệu lượt khách, doanh thu du lịch khoảng 56.400 tỷ đồng.

Bắc Ninh không có cảng biển như Hải Phòng, cũng không có biên giới, du lịch và kinh tế biển như Quảng Ninh. Công nghiệp chế biến, chế tạo và FDI chiếm ưu thế. Khi sản xuất, xuất khẩu thuận lợi, cấu trúc này giúp Bắc Ninh tăng nhanh. Khi thị trường thế giới biến động, mức độ phụ thuộc cũng bộc lộ rõ hơn.

Ông Nguyễn Việt Oanh - Chủ tịch HĐND thành phố Bắc Ninh từng nhìn nhận kinh tế địa phương “còn phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI”; năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp địa phương “chưa có nhiều cải thiện”.

Khoảng trống nằm phía sau kim ngạch xuất khẩu lớn. Một sản phẩm công nghệ xuất xưởng tại Bắc Ninh làm tăng giá trị sản xuất, nhưng phần giá trị ở lại phụ thuộc vào tỷ lệ linh kiện, thiết bị, phần mềm và dịch vụ kỹ thuật do doanh nghiệp trong nước cung cấp.

Sau cuộc làm việc với Bắc Ninh hồi tháng 7, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu địa phương chuyển từ “cứ điểm sản xuất, lắp ráp quy mô lớn” sang trung tâm công nghiệp công nghệ cao, tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao. Kết luận của Chính phủ cũng yêu cầu Bắc Ninh “giảm dần sự phụ thuộc vào khu vực FDI”, phát triển doanh nghiệp trong nước, nâng tỷ lệ nội địa hóa và hình thành mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh.

Chất lượng FDI vì thế không thể chỉ tính bằng vốn đăng ký. Công nghệ được chuyển giao, hoạt động R&D đặt tại địa phương và số doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng phản ánh rõ hơn sức lan tỏa của dòng vốn này.

Không gian lớn hơn, áp lực cũng lớn hơn

Sau hợp nhất Bắc Ninh - Bắc Giang, thành phố mới có diện tích hơn 4.700 km2 với trên 3,6 triệu dân. Vùng công nghiệp phát triển dày đặc của Bắc Ninh cũ được nối với địa bàn còn quỹ đất, lao động và các khu công nghiệp ở phía Bắc.

Từ ngày 20/9, Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Nghị quyết của Quốc hội quy định Bắc Ninh thực hiện các chế độ, chính sách đối với thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ chế, chính sách đặc thù trước đây còn thời hạn tiếp tục được thực hiện theo quy định.

Địa giới lớn hơn chưa đồng nghĩa với một nền kinh tế mạnh hơn. Bắc Ninh có thêm đất công nghiệp, lao động và thị trường đô thị lớn hơn. Việc còn lại là kết nối những nguồn lực đó với vùng công nghiệp đã hình thành quanh Yên Phong, Quế Võ, Tiên Sơn thay vì để tồn tại như những không gian phát triển rời nhau.

Sân bay Gia Bình là một phép thử. Cùng với Vành đai 4 và tuyến kết nối Hà Nội, sân bay bổ sung phương thức vận tải cho một trung tâm sản xuất điện tử hướng mạnh vào xuất khẩu. Tuyến kết nối sân bay với Hà Nội đoạn qua Bắc Ninh dài khoảng 27,7 km, trong đó 18,7 km đầu tư theo hình thức BT, 9 km sử dụng ngân sách Bắc Ninh. Vốn nhà nước và nguồn lực ngoài ngân sách đang cùng được huy động cho dự án hạ tầng này.

Nhưng sân bay không tự sinh ra trung tâm logistics. Đường giao thông cũng không tự kéo về những trung tâm R&D hay nhà máy công nghệ cao. Quỹ đất quanh các tuyến kết nối, khu công nghiệp, nguồn điện, đô thị, nhà ở và dịch vụ phải theo kịp tiến độ hạ tầng.

Nếu Hải Phòng dựa nhiều vào công nghiệp - cảng biển - logistics, Quảng Ninh khai thác đồng thời công nghiệp, dịch vụ, du lịch và cửa khẩu, Bắc Ninh có thể đi theo hướng công nghiệp công nghệ cao gắn với logistics hàng không và hệ thống đô thị - dịch vụ phục vụ sản xuất.

Khu công nghiệp không thể đón dự án nếu thiếu mặt bằng; nhà máy bán dẫn khó hoạt động ổn định nếu thiếu điện và kỹ sư. Với nhà đầu tư, thời gian chờ mặt bằng hay thủ tục đều là chi phí. Đây cũng là nơi năng lực điều hành của thành phố mới được kiểm chứng.

Phần giá trị ở lại

Bắc Ninh đã có hệ sinh thái điện tử hình thành qua nhiều năm, hàng chục tỷ USD vốn FDI và những tập đoàn toàn cầu tiếp tục mở rộng sản xuất. Sau hợp nhất, địa phương có thêm đất công nghiệp, lao động và thị trường; sân bay Gia Bình, Vành đai 4 cùng các tuyến kết nối đang bổ sung hạ tầng cho khu vực sản xuất.

Điểm yếu vẫn nằm ở khu vực doanh nghiệp trong nước. Nếu các dự án mới mang theo R&D, đào tạo kỹ sư và chuyển giao công nghệ; nếu doanh nghiệp Việt cung cấp được nhiều hơn linh kiện, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật cho Samsung, Foxconn, Amkor, Luxshare hay Goertek, phần giá trị giữ lại sẽ lớn hơn.Ngược lại, sản lượng và xuất khẩu có thể tiếp tục tăng nhưng mức độ phụ thuộc vào FDI không thay đổi.

Bắc Ninh đã đi khá xa trong việc đưa các tập đoàn thế giới vào các khu công nghiệp. Giai đoạn tiếp theo khó hơn: đưa doanh nghiệp trong nước vào sâu hơn trong chính những nhà máy đó.

Từ khóa: tăng trưởng, Bắc Ninh , sau hợp nhất, tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, FDI, sản xuất công nghiệp, nhà máy tỷ USD,Bắc Ninh

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: kinh bắc/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập