Xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp – cần chính sách tạo động lực
Cập nhật: 2 ngày trước
Đà Nẵng tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đà tăng trưởng 2 con số trong dài hạn
Diễn đàn Công nghệ số Việt Nam - Nhật Bản 2026, hợp tác công nghệ song phương
VOV.VN - Xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững không chỉ là giải pháp mà là yêu cầu bắt buộc để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh cho ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó cần có chính sách tạo động lực...
Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp là quá trình liên kết khép kín từ khâu cung ứng đầu vào, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Việc liên kết theo chuỗi giá trịgiúp nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng sức cạnh tranh, giảm rủi ro, mang lại thu nhập cao cho người nông dân; thuận lợi trong chuyển giao khoa học - kỹ thuật, triển khai các chính sách hỗ trợ, tạo tiền đề hình thành vùng sản xuất quy mô lớn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến cuối năm 2025, cả nước có gần 3.000 dự án, kế hoạch liên kết sản xuất, gắn với tiêu thụ nông sản được phê duyệt, với sự tham gia của hàng nghìn hợp tác xã, doanh nghiệp và hơn 200.000 hộ nông dân. Nếu như trước năm 2018 tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp sản xuất theo hình thức liên kết khoảng 10% thì đến năm 2025 đã tăng lên hơn 30%. Tuy nhiên, tỷ lệ này chưa phải là con số đáp ứng kỳ vọng về sự phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp, vẫn còn thấp so với tiềm năng của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Thực tế chuỗi liên kết vẫn còn lỏng lẻo, thậm chí người nông dân tự sản xuất và phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm.
Chị Đồng Thị Thu Hương, Giám đốc HTX Nông nghiệp Minh Tiến, tỉnh Hưng Yên (chuyên chế biến quả vải, quả nhãn thành các sản phẩm như long vải, long nhãn sấy dẻo, long nhãn ôm sen...) cho biết, một trong những khó khăn nhất của việc liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp chính là tìm đầu ra cho sản phẩm trên thị trường.
“Tìm đầu ra cho sản phẩm trên thị trường đã khó khăn, nhưng tìm được chỗ đứng trên thị trường lại càng khó hơn. Chúng tôi đều phải tự dựa vào sức mình là chính bằng cách tìm đến các siêu thị đến chào hàng, có thời điểm tôi đã phải vào tận các tỉnh miền Trung đến các chợ đầu mối, các đại lý nông sản... để tìm đầu ra cho sản phẩm. Thật sự là không dễ dàng gì”, chị Hương chia sẻ.
Liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là mong muốn của các hợp tác xã, người nông dân. Tuy nhiên, nguồn vốn để quay vòng và duy trì hoạt động lạilà nút thắt lớn nhất của hợp tác xã trong chuỗi giá trị, điều này xuất phát từ việc thiếu tài sản thế chấp, khó tiếp cận tín dụng ưu đãi và chi phí đầu tư lớn cho sơ chế, bảo quản nông sản.
“Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã, tôi đã vay ngân hàng một số vốn không nhỏ, áp lực lớn nhất là trả lãi hàng tháng vì lãi suất không được ưu đãi. Trong khi đó sản phẩm làm ra chưa bán được ngay, thậm chí tồn kho vì chưa tìm được đầu ra trên thị trường; nhãn, vải tươi mà hợp tác xã nhập của người dân cũng phải trả tiền ngay cho bà con, rồi là tiền lương cho công nhân, chi phí vận hành vẫn phải trả hàng tháng.... chúng tôi rất mong muốn được tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thấp để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và tiếp tục đầu tư trang thiết bị máy móc để sấy nông sản”, chị Hương nói.
Sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn chủ yếu dựa vào kinh tế hộ nông dân, hợp tác xã nên quy mô nhỏ, manh mún, năng lực cạnh tranh thấp. Vì vậy, phát triển chuỗi liên kết giá trị nông nghiệp là yêu cầu bắt buộc để khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán của các hộ nông dân và hợp tác xã, giúp tối ưu hóa chi phí, lợi nhuận, nâng cao chất lượng, ổn định đầu ra và tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.
Ông Lê Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Xuyên Việt cho rằng, để hình thành được mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị một cách hoàn chỉnh thì phải mất nhiều năm.
“Nhà nước cần có cơ chế đặc thù ưu tiên cho nhữngliên kết sản xuất khép kín vì hiện nay các chủ thể trong chuỗi liên kết đang gặp không ít những vướng mắc khi tiếp cận các chính sách hỗ trợ”, ông Việt nói.
Nghị định 98/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản sau nhiều năm thực hiện đã bộc lộ một số bất cập, nhất là về thủ tục, quy trình và điều kiện hỗ trợ. Đơn cử, Nhà nước hỗ trợ 30% vốn đầu tư máy móc, thiết bị và hạ tầng phục vụ liên kết, đồng nghĩa hợp tác xã phải đối ứng 70%. Đây là mức vốn lớn, vượt khả năng của nhiều hợp tác xã nông nghiệp, khiến không ít đơn vị phải loại hạng mục hạ tầng khỏi đề án liên kết.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Nghị định về phát triển liên kếtchuỗi giá trị nông nghiệpbền vững, thay thếNghị định số 98/2018/NĐ-CP, không chỉ sửa đổi cơ chế hỗ trợ hiện hành mà chuyển từ hỗ trợ từng dự án sang phát triển hệ sinh thái chuỗi giá trị có hợp đồng chuẩn hóa, cơ chế bảo đảm thực hiện liên kết, công cụ chia sẻ rủi ro, dữ liệu giám sát và vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Các nội dung hỗ trợ tư vấn, chuyển giao công nghệ, đầu tư hạ tầng, cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ số, bảo hiểm nông nghiệp và quản lý rủi ro được thiết kế theo hướng đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia chuỗi liên kết.
TS Hoàng Xuân Trường, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp (CASRAD), Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững không chỉ là sự liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ mà là một quá trình đòi hỏi có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức xã hội và người nông dân. Chính sách cần đặt người nông dân, hợp tác xã và các tổ chức đại diện của nông dân ở vị trí trung tâm của chuỗi giá trị. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính bao trùm, bền vững của quá trình phát triển.
“Doanh nghiệp cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường, công nghệ và tiêu chuẩn chất lượng, Nhà nước với vai trò là người kiến tạo thông qua hỗ trợ hạ tầng, chính sách và giảm thiểu rủi ro đầu tư. Cần đa dạng hóa các công cụ tài chính hỗ trợ chuỗi giá trị, bao gồm tín dụng ưu đãi, quỹ đồng tài trợ, quỹ đổi mới sáng tạo và các cơ chế chia sẻ rủi ro nhằm khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân. Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp phải gắn với xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, chuyển đổi số, thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh cũng như tạo ra các sản phẩm, chế biến sâu, gắn với nhãn hiệu được bảo hộ, tạo dựng thượng hiệu mạnh cho các hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia vào phát triển sản phẩm của chuỗi đó”, TS Trường nêu quan điểm.
Từ khóa: nông nghiệp công nghệ cao, chuỗi giá trị nông nghiệp,hợp tác xã, doanh nghiệp, nông nghiệp
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: lê thanh-ctv phượng ngọc/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN