Việt Nam phải biến các cam kết đối ngoại thành năng lực nội tại
Cập nhật: 6 giờ trước
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng JBIC
Ninh Bình kỷ niệm 60 năm khúc tráng ca mười nữ dân quân Lam Hạ
VOV.VN - Theo TS Nicolas Chapman, nhà nghiên cứu Việt Nam tại Đại học Tohoku (Nhật Bản), điều quan trọng sau chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Mỹ và Canada không chỉ là những thỏa thuận mới, mà là khả năng Việt Nam chuyển các cam kết đó thành năng lực công nghệ, nhân lực và sức cạnh tranh.
Trao đổi với phóng viên VOV về chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Mỹ và Canada, TS Nicolas Chapman cho rằng Việt Nam cần tận dụng và ưu tiên những cam kết có khả năng trực tiếp củng cố năng lực trong nước, tạo ra các cơ hội kinh tế và công nghệ cụ thể.
Theo ông, giá trị của các thỏa thuận ngoại giao được phát huy khi Việt Nam có đủ năng lực để triển khai. Vì vậy, Việt Nam nên tập trung vào những lĩnh vực mà hợp tác với Mỹ và Canada có thể tạo ra năng lực nền tảng, từ đó lan tỏa sang các ngành khác.
Nhìn từ chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Mỹ và Canada vừa qua, TS Nicolas Chapman cho rằng khoa học - công nghệ, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cần được đặt ở vị trí ưu tiên. Đây là những lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với các mục tiêu của Việt Nam về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất tiên tiến, năng lượng và chuyển đổi số.
Theo ông, Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng trong các lĩnh vực này, nhưng để hiện thực hóa, việc thu hút đầu tư nước ngoài là chưa đủ. Việt Nam cần các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước phát triển nguồn nhân lực cũng như năng lực công nghệ để có thể tiếp nhận, hấp thụ và tiếp tục phát triển trên nền tảng nguồn vốn và công nghệ được đưa vào Việt Nam.
Trong lĩnh vực này, Mỹ có thể đóng vai trò quan trọng thông qua hợp tác công nghệ, các chương trình nghiên cứu và liên kết với doanh nghiệp. Còn Canada có thế mạnh về hệ thống đại học, các cơ sở nghiên cứu và kinh nghiệm trong những lĩnh vực như công nghệ cao, nông nghiệp và năng lượng. Theo TS Chapman, quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada cũng đã xác định chuyển đổi số, AI, công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo và giáo dục là những trụ cột hợp tác.
Bên cạnh công nghệ và nhân lực, chuyên gia từ Nhật Bản cho rằng Việt Nam cần ưu tiên hợp tác về chuỗi cung ứng và cơ sở hạ tầng. Đây là lĩnh vực mà các cam kết với Mỹ và Canada có thể bổ trợ cho mạng lưới quan hệ hiện có của Việt Nam với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu và ASEAN.
“Thế mạnh của Việt Nam không phải là phải lựa chọn một đối tác kinh tế này thay cho một đối tác khác. Thay vào đó, Việt Nam có thể kết nối các thị trường, công nghệ và nguồn vốn đầu tư khác nhau”, ông nhận định.
Theo nhà nghiên cứu tại Đại học Tohoku, thỏa thuận quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam - Canada đã xác định các lĩnh vực như giao thông vận tải, quản lý chuỗi cung ứng, cơ sở hạ tầng, an ninh lương thực và nông nghiệp - thực phẩm là những hướng hợp tác quan trọng.
Một vấn đề khác được chuyên gia Nicolas Chapman nhấn mạnh là khả năng tạo ra giá trị lớn hơn trong nước từ dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Việt Nam đã thu hút một lượng lớn đầu tư nước ngoài, nhưng thách thức tiếp theo là làm sao để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị được hình thành từ những khoản đầu tư này. Điều đó đòi hỏi thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới nhà cung ứng trong nước, nâng cao kỹ năng quản lý và kỹ thuật, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp Việt Nam và các trường đại học.
TS Chapman mô tả vị thế của Việt Nam trong mạng lưới kinh tế quốc tế bằng một hình ảnh khá đặc biệt. Việt Nam thường được gọi là một “cây cầu” giữa các thị trường, chẳng hạn cầu nối vào ASEAN hoặc điểm đến của các doanh nghiệp rời Trung Quốc. Tuy nhiên, theo ông, hình ảnh chính xác hơn có thể là một “vòng xuyến”.
“Nếu cây cầu thường chỉ có hai điểm vào và ra, thì vòng xuyến có nhiều hướng kết nối”, ông giải thích.
Theo cách giải thích này, Việt Nam đang sở hữu nhiều tầng nấc hợp tác với Mỹ và Trung Quốc, đồng thời duy trì quan hệ với Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, ASEAN và EU. Đây là một vị thế đáng chú ý trong bối cảnh môi trường quốc tế ngày càng phân cực.
TS Chapman cho rằng nếu các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực của mình, Việt Nam có thể tạo ra những cơ hội đa dạng hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nhìn rộng hơn, TS Nicolas Chapman cho rằng những kết quả từ chuyến công tác tới Mỹ và Canada có ý nghĩa đối với vị thế quốc tế cũng như khả năng duy trì tự chủ chiến lược của Việt Nam.
Theo ông, các chuyến thăm cấp cao đôi khi chỉ tạo ra những tuyên bố và sáng kiến mang tính biểu tượng mà không đem lại nhiều lợi ích cụ thể. Trong trường hợp Việt Nam, điều đáng chú ý là các mục tiêu hiện đại hóa đang được đi kèm với việc huy động nguồn lực cho hợp tác sâu rộng hơn, từ phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực của bộ máy nhà nước đến hội nhập sâu hơn vào hệ thống quy định toàn cầu.
Đối với tự chủ chiến lược, chuyên gia Nhật Bản đưa ra một cách giải thích đơn giản: đó là tạo ra nhiều lựa chọn hơn với chi phí chuyển đổi thấp nhất có thể.
Trong một môi trường quốc tế ngày càng phân cực và khó dự đoán, các cú sốc địa chính trị xuất hiện thường xuyên hơn và những quốc gia nhỏ hơn có thể phải gánh chịu phần chi phí không tương xứng từ cạnh tranh giữa các nước lớn.
“Các thỏa thuận này mở rộng những lựa chọn của Việt Nam”, ông nói.
Theo TS Chapman, những lựa chọn đó có thể giúp Việt Nam tăng cường năng lực trong nước để hành động độc lập khi cần thiết, đồng thời tạo ra những nguồn thay thế về đầu tư, công nghệ, năng lượng và thị trường khi các lựa chọn đó trở nên thuận lợi hơn.
Ví dụ, các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực năng lượng được ký kết trong chuyến thăm Mỹ, trong đó có các hợp tác giữa Petrovietnam với Chevron và ExxonMobil Asia Pacific. Những thỏa thuận này diễn ra chỉ vài tuần sau khi tập đoàn dầu khí nhà nước Nga Zarubezhneft ký thỏa thuận khung với Petrovietnam về tăng cường dự trữ chiến lược tại Việt Nam.
Theo chuyên gia Nicolas Chapman, những mối quan hệ này có thể giúp Việt Nam đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, đồng thời tăng khả năng chống chịu nếu bất ổn tại Trung Đông hoặc các khu vực khác gây gián đoạn thị trường năng lượng toàn cầu.Về tổng thể, TS Chapman cho rằng những kết quả đạt được trong quan hệ với Mỹ và Canada không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ những lợi ích kinh tế trước mắt. Điều quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa các mối quan hệ đối tác thành năng lực nội tại của Việt Nam.
Ông cho rằng Việt Nam đang cho thấy khả năng duy trì các quan hệ tích cực với nhiều trung tâm quyền lực khác nhau trong một hệ thống quốc tế ngày càng phức tạp.
Đây là một kinh nghiệm đáng chú ý đối với các quốc gia tầm trung khác trong khu vực và tại các nước đang phát triển: một mạng lưới quan hệ đối tác đa dạng có thể mở rộng không gian lựa chọn khi môi trường quốc tế biến động.
“Tự chủ chiến lược không có nghĩa là tránh phụ thuộc vào các quốc gia khác. Thay vào đó, nó có nghĩa là có đủ các lựa chọn thay thế để Việt Nam có thể quản lý những sự phụ thuộc của mình và ứng phó với các cú sốc bên ngoài mà không bị ràng buộc quá mức bởi bất kỳ một đối tác nào”, TS Nicolas Chapman nhấn mạnh.
Từ khóa: việt nam, Tô Lâm, Tổng bí thư, Chủ tịch nước, chuyến thăm, Mỹ, Canada, Hoa kỳ, tập đoàn kinh tế, thỏa thuận, cam kết, sức mạnh, tự chủ chiến lược, cạnh tranh, công nghệ, nguồn nhân lực, tận dụng, đối ngoại, doanh nghiệp, nội lực,doanh nghiệp Việt Nam
Thể loại: Nội chính
Tác giả: phan tùng/vov.vn (thực hiện)
Nguồn tin: VOVVN