Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Cần siết hậu kiểm, tránh tạo kẽ hở quản lý
Cập nhật: 6 ngày trước
Nhân tài dẫn dắt nhân tài cùng chung khát vọng trăm năm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh Thái Nguyên
VOV.VN - Các đại biểu Quốc hội đề nghị khi sửa Luật Bảo vệ môi trường cần gắn cắt giảm thủ tục với củng cố hậu kiểm, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý chất thải, tránh tạo kẽ hở quản lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Sáng 24/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, tại phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Đại biểu Tô Huy Vũ, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, tán thành chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, đẩy mạnh phân quyền cho địa phương và luật hóa các công cụ kinh tế mới trong dự thảo luật. Đại biểuđánh giá cao định hướng gắn việc tiếp nhận dự án, cấp phép xả thải với khả năng chịu tải của nguồn nước; luật hóa vùng phát thải thấp, kiểm kê khí nhà kính hàng năm; đồng thời chuyển trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất từ hình thức đóng góp tài chính sang thực hiện nghĩa vụ tái chế thực chất.
Theo đại biểu Tô Huy Vũ, việc triển khai Nghị quyết số 17 và Nghị quyết số 66.19của Chính phủ đã giúp cắt giảm hơn 52% thời gian giải quyết thủ tục và chi phí tuân thủ, theo Báo cáo số 11759 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Việc sửa luật lần này là cần thiết để duy trì những kết quả cải cách đó. Tuy nhiên, Đại biểu Tô Huy Vũ lưu ý việc giảm hơn 90% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp giấy phép môi trường cần được xem xét cùng năng lực hậu kiểm. “Cắt 90% tiền kiểm chỉ an toàn khi hậu kiểm đã đứng vững, mà hiện nay hậu kiểm chưa đứng vững”, đại biểu Tô Huy Vũ nêu quan điểm.
Một trong những bất cập được đại biểu Tô Huy Vũ chỉ ra là cách xác định dự án phải thực hiện ĐTM còn phức tạp, khiến doanh nghiệp phải đối chiếu nhiều điều khoản trong luật và nghị định. Theo đại biểu, ĐTM là công cụ phòng ngừa tác động từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, trong khi giấy phép môi trường kiểm soát hoạt động khi dự án vận hành. Vì vậy, không nên lấy đối tượng thuộc diện cấp giấy phép môi trường làm căn cứ loại trừ để xác định dự án phải thực hiện ĐTM.
Đại biểu Tô Huy Vũ kiến nghị quy định trực tiếp trong luật các tiêu chí xác định đối tượng phải thực hiện ĐTM, gồm loại hình, quy mô, công suất, lưu lượng và tải lượng phát thải, tính chất nguy hại cũng như mức độ nhạy cảm của môi trường tiếp nhận. Đại biểu cũng cảnh báo nguy cơ phát sinh khoảng trống kiểm soát khi nhiều quy định được nới lỏng cùng lúc. Theo số liệu đại biểu Tô Huy Vũdẫn, 309 trong tổng số 324 khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, tương đương hơn 95%. Trong khi đó, tại các cụm công nghiệp, chỉ 251 trong 723 cụm có hạ tầng này, chiếm 34,7%.
Nếu dự án thứ cấp tại cụm công nghiệp được miễn ĐTM, vẫn có thể được cấp phép xả thải khi nguồn nước chưa được công bố khả năng chịu tải và không phải vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải, nguy cơ ô nhiễm có thể gia tăng. Đại biểu đề nghị không miễn ĐTM đối với dự án có nguồn thải lớn, chất thải nguy hại hoặc công nghệ rủi ro cao tại các cụm công nghiệp chưa hoàn thiện hạ tầng; đồng thời quy định thời hạn công bố sức chịu tải của nguồn nước và cơ chế kiểm soát tạm thời trong thời gian chờ đánh giá.
Về hậu kiểm, đại biểu Tô Huy Vũ dẫn báo cáo cho biết giai đoạn 2022-2025, Bộ thanh tra, kiểm tra 1.074 cơ sở, trong đó tỷ lệ phát hiện vi phạm là 42%, tăng so với mức 34% của giai đoạn trước. Tại Hà Nội, theo kết luận thanh tra thành phố công bố ngày 22/10/2026, trong tổng số 700 đơn vị tại các khu công nghiệp, năm 2023 có 25 đơn vị được kiểm tra, năm 2024 là 22 đơn vị; từ năm 2025 đến tháng 4/2026 không có cuộc kiểm tra nào. Qua kiểm tra xác suất hồ sơ của 5 đơn vị, 3 đơn vị có dấu hiệu vi phạm hành chính về môi trường nhưng không được chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị việc phân quyền cho địa phương phải đi kèm hỗ trợ chuyên gia từ Trung ương, cơ chế giám sát chất lượng dịch vụ quan trắc và trách nhiệm phối hợp giữa các địa phương đối với ô nhiễm liên tỉnh. Đại biểu Tô Huy Vũ cũng kiến nghị quy định rõ trong luật các nguyên tắc về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, thẩm quyền thành lập vùng phát thải thấp và trách nhiệm khi xảy ra sự cố môi trường.
Với hoạt động tái chế và quản lý chất thải, đại biểu cho rằng lộ trình thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất cần bám sát năng lực hạ tầng trong nước. Quy định phân loại rác tại nguồn cũng cần gắn với phương tiện thu gom, xử lý đồng bộ, tránh tình trạng người dân phân loại nhưng rác lại bị trộn chung trong quá trình vận chuyển.
Đối với thị trường carbon, đại biểu Tô Huy Vũ đề nghị sớm hoàn thiện cơ chế công nhận tổ chức thẩm định độc lập, xác định hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon là quyền tài sản, đồng thời làm rõ cơ chế quản lý hệ thống đăng ký quốc gia.
Cùng quan tâm đến tính khả thi của các quy định, đại biểu Nguyễn Minh Tâm, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị, đề nghị cân nhắc việc loại bỏ hoàn toàn dịch vụ cung cấp thông tin môi trường khỏi khái niệm dịch vụ công trực tuyến về môi trường tại Điều 115 của dự thảo luật.
Theo đại biểu Minh Tâm, đơn giản hóa phương thức cung cấp thông tin để người dân và doanh nghiệp thuận tiện tra cứu là cần thiết. Tuy nhiên, thông tin môi trường không chỉ là tiện ích dữ liệu mà còn liên quan trực tiếp đến tính minh bạch, quyền tiếp cận thông tin và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường.
Đại biểu nêu ví dụ, khi một dự án sản xuất, chăn nuôi hoặc xử lý chất thải dự kiến triển khai gần khu dân cư, người dân cần tiếp cận các thông tin được công khai để hiểu tác động có thể xảy ra và tham gia ý kiến theo quy định. Tương tự, doanh nghiệp muốn đầu tư cơ sở chế biến tại địa phương cũng cần dữ liệu về chất lượng nguồn nước, hiện trạng môi trường và các thông tin liên quan đến khu vực dự kiến triển khai dự án.
Nếu chưa quy định rõ trách nhiệm công khai, cập nhật và cung cấp dữ liệu môi trường trên môi trường điện tử, việc tiếp cận thông tin có thể phụ thuộc vào từng cơ quan, thiếu thống nhất và kịp thời. Điều này gây khó khăn cho người dân khi tham gia ý kiến, đồng thời khiến doanh nghiệp phải liên hệ nhiều cơ quan để thu thập dữ liệu, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư.
Đại biểu MinhTâm đề nghị nghiên cứu quy định riêng về công bố thông tin môi trường trên môi trường điện tử theo hướng công khai trực tuyến, dễ tiếp cận, không đặt thêm thủ tục hành chính đối với thông tin đã được công khai và được phép khai thác. Theo đại biểu, cần xác định rõ trách nhiệm cung cấp, phạm vi dữ liệu được khai thác và khả năng tiếp cận để phù hợp với mục tiêu chuyển đổi số.
Ở góc độ quản lý chất thải nông nghiệp, đại biểu Phạm Huỳnh Thanh Vân, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, đánh giá các định hướng về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), hỗ trợ canh tác giảm phát thải và quản lý chất thải hộ gia đình là cần thiết. Tuy nhiên, việc thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt do chi phí xử lý cao và hạ tầng chưa đồng bộ.
Theo số liệu đại biểu dẫn, giai đoạn 2020-2024, cả nước xây dựng gần 188.000 bể chứa, thu gom hơn 3,6 triệu kg bao bì thuốc bảo vệ thực vật, nhưng chỉ khoảng 60% được xử lý đúng quy định; 40% còn tồn đọng. Chi phí xử lý loại chất thải nguy hại này khoảng 30 triệu đồng mỗi tấn, vượt khả năng tài chính của nhiều địa phương. Bao bì sau sử dụng vì thế vẫn còn bị bỏ lại trên đồng ruộng.
Để khắc phục, đại biểu Phạm Huỳnh Thanh Vânđề nghị bổ sung vào Điều 61 quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong rà soát nhu cầu, bố trí và duy trì bể chứa, điểm tập kết phù hợp với diện tích canh tác, lượng chất thải phát sinh, địa hình và mật độ dân cư. Hạ tầng cần được bố trí thuận tiện để người dân có thể đưa bao bì đến đúng nơi quy định.
Về nguồn lực, Đại biểu kiến nghị hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tài chính gắn với trách nhiệm EPR tại Điều 55, trong đó nghiên cứu cách phân bổ, chuyển kinh phí về địa phương linh hoạt theo lượng chất thải và điều kiện từng địa bàn. Nguồn kinh phí này có thể được phối hợp với ngân sách địa phương để đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý. Đại biểu Phạm Huỳnh Thanh Vâncũng đề xuất bổ sung trách nhiệm của cơ sở phân phối thuốc bảo vệ thực vật trong việc phối hợp thu hồi, tiếp nhận và chuyển giao bao bì sau sử dụng, hình thành chuỗi thu gom từ nhà sản xuất, nhà phân phối đến người sử dụng và đơn vị xử lý.
Đối với Điều 75, bà Vân đề nghị quy định cụ thể nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong việc thu gom, lưu giữ an toàn và chuyển giao bao bì tại điểm tiếp nhận. Việc vứt bao bì xuống sông, trộn với rác sinh hoạt hoặc tự ý đốt, chôn lấp gây ô nhiễm cần bị nghiêm cấm; khâu xử lý ban đầu phải tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật, bảo đảm không xả nước rửa trực tiếp ra môi trường.
Các ý kiến cho thấy việc sửa Luật Bảo vệ môi trường không chỉ đặt ra yêu cầu giảm thủ tục, mà còn cần làm rõ trách nhiệm thực thi, bảo đảm thông tin minh bạch và bố trí đủ nguồn lực cho quản lý chất thải. Cải cách chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có quy định rõ ràng để tuân thủ, người dân có thể tiếp cận thông tin và các cơ quan quản lý đủ năng lực giám sát, xử lý vi phạm. Đây là những điều kiện quan trọng để vừa thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa bảo vệ môi trường sống và hướng tới phát triển bền vững.
Từ khóa: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường, sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, hậu kiểm môi trường, cắt giảm thủ tục hành chính, đánh giá tác động môi trường, tiếp cận thông tin môi trường, quản lý chất thải nông nghiệp, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, phát triển bền vững
Thể loại: Nội chính
Tác giả: văn ngân/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN