Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường: Hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý

Cập nhật: 24/10/2026

VOV.VN - Tại phiên thảo luận, các đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, tập trung kiểm soát rủi ro, nâng cao trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải, bảo đảm quyền giám sát của người dân và khơi thông thị trường carbon.

Đổi mới phương thức quản trị, kiểm soát rủi ro môi trường

Tại phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Đại biểu Nguyễn Thanh Hải -Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên) nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trườngkhông chỉ dừng ở việc bổ sung công cụ quản lý mà cần đổi mới phương thức quản trị. Trong đó, cần chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị không gian biển thống nhất, bảo đảm hài hòa giữa quy hoạch tổng thể và các quy định chuyên ngành.

Đối với Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu đề nghị xây dựng tiêu chí đánh giá rủi ro môi trường rõ ràng, bảo đảm việc cắt giảm thủ tục đánh giá tác động môi trường đi đôi với kiểm soát và giám sát hiệu quả. Quy định về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì cần có lộ trình chuyển tiếp phù hợp với điều kiện hạ tầng xử lý chất thải và khả năng thực hiện của doanh nghiệp.

Cùng tán thành định hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, quản lý dựa trên mức độ rủi ro, đại biểu Trần Mạnh Huy (Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng) cho rằng, việc cắt giảm thủ tục phải đi đôi với xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện. Những nội dung được đơn giản hóa vẫn cần có cơ chế quản lý, kiểm tra và giám sát phù hợp để bảo đảm hiệu quả thực chất.

Đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa) cũng đề nghị việc phân loại mức độ nhạy cảm của dự án phải căn cứ vào khu vực chịu tác động và mức độ rủi ro, thay vì chỉ dựa trên diện tích đất chiếm dụng.

Theo đại biểu, một nhà máy có diện tích nhỏ nhưng xả thải gây ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa nguồn nước có thể nguy hiểm hơn dự án chiếm diện tích lớn nhưng mức độ tác động thấp. Nếu chỉ căn cứ vào diện tích, việc đánh giá có thể chưa phản ánh đúng mức độ rủi ro, dẫn đến yêu cầu kiểm soát môi trường chưa tương xứng với nguy cơ thực tế. Từ đó, đại biểu đề nghị rà soát các tiêu chí phân loại dự án để bảo đảm những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao phải được kiểm soát phù hợp, đồng thời tránh tạo ra sự chênh lệch không hợp lý về yêu cầu thủ tục giữa các dự án.

Phân loại rác phải gắn với trách nhiệm thu gom, xử lý

Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là bảo đảm tính đồng bộ giữa phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý cuối cùng. Đại biểu Trần Mạnh Huy cho rằng, nếu người dân đã thực hiện phân loại nhưng đơn vị thu gom lại trộn chung các loại rác thì mục tiêu của chính sách khó đạt được. Vì vậy, các quy định tại Điều 75, Điều 77 và Điều 78 của dự thảo luật cần được rà soát theo hướng làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ quá trình quản lý chất thải.

Đối với Điều 75, đại biểu đề nghị giao địa phương xác định cụ thể các nhóm chất thải phải phân loại, phương thức lưu giữ, đơn vị tiếp nhận và địa điểm xử lý. Việc xây dựng kế hoạch triển khai cần phù hợp với điều kiện hạ tầng và năng lực cung ứng dịch vụ tại địa phương, đồng thời có hướng dẫn thống nhất để người dân dễ thực hiện.

Đối với Điều 77, đại biểu kiến nghị đưa việc duy trì kết quả phân loại rác trong suốt quá trình thu gom vào tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ, đồng thời làm căn cứ nghiệm thu, thanh toán. Việc từ chối tiếp nhận rác chưa được phân loại đúng cần gắn với điều kiện người dân đã được hướng dẫn đầy đủ và có dịch vụ thu gom phù hợp.

Bên cạnh đó, cách xác định khối lượng hoặc thể tích chất thải và mức chi trả của người dân cần được công khai, minh bạch, giúp người dân hiểu rõ nghĩa vụ và cách tính phí dịch vụ.

Đối với chất thải thực phẩm tại Điều 78, đại biểu Trần Mạnh Huy đề nghị bổ sung trách nhiệm của chính quyền địa phương trong khảo sát nguồn phát sinh, lựa chọn địa bàn và tổ chức xử lý tại chỗ hoặc theo cụm. Những nơi có lượng chất thải thực phẩm tập trung như chợ, trường học, bếp ăn tập thể và cơ sở lưu trú cần được ưu tiên triển khai. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ thiết bị lưu giữ riêng, hướng dẫn vận hành và lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp với quy mô phát sinh.

Cùng quan tâm đến vấn đề này, đại biểu Phan Thị Thùy Linh cho rằng, thực tế tại nhiều nơi cho thấy người dân đã phân loại rác tại nhà nhưng khi thu gom, các loại rác lại bị đổ chung vào một thùng hoặc phương tiện vận chuyển. Điều này gây lãng phí công sức của người dân, làm giảm hiệu quả chính sách và cho thấy trách nhiệm thực hiện cần gắn chặt hơn với cơ chế kiểm tra, giám sát.

Đại biểu đề nghị sửa đổi đồng bộ các quy định để lộ trình phân loại rác và lộ trình tính giá dịch vụ phù hợp với khả năng cung cấp dịch vụ thu gom, xử lý trên thực tế. UBND cấp tỉnh cần tổ chức dịch vụ thu gom tương ứng với phương án phân loại, có giải pháp xử lý riêng đối với từng nhóm chất thải. Người dân cũng cần được thông tin rõ loại rác nào phải trả phí, cách xác định khối lượng hoặc thể tích và mức phí phải nộp.

Đối với rác hữu cơ, đặc biệt là rác thải thực phẩm, đại biểu Phan Thị Thùy Linh nhận định đây là thành phần chiếm tỷ trọng đáng kể trong rác thải sinh hoạt, làm phát sinh chi phí vận chuyển và chôn lấp, nhưng đồng thời có tiềm năng tái chế thành phân bón hữu cơ.

Để chủ trương xử lý tại nguồn đạt hiệu quả, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 78 trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phân loại, xử lý rác thải thực phẩm tại chỗ hoặc theo cụm ở những địa bàn có điều kiện như chợ, trường học, cơ sở lưu trú và khu dân cư. Các địa phương cần lựa chọn, hỗ trợ công nghệ phù hợp, kết nối đầu ra để sản phẩm sau xử lý được sử dụng trong nông nghiệp, bảo đảm chất lượng và an toàn.

Đại biểu Nguyễn Thanh Hải cũng đề nghị quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, bảo đảm việc phân loại được thực hiện đồng bộ từ nguồn phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng. Việc triển khai có thể theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương; trước mắt, có thể nghiên cứu phân thành hai nhóm chất thải, từng bước hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý, giảm chôn lấp, tăng tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng.

Bảo đảm quyền tham gia, giám sát của cộng đồng

Bên cạnh yêu cầu kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải, đại biểu Nguyễn Phi Hùng (Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng) tập trung góp ý về kiểm soát rủi ro môi trường ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, tăng cường công khai thông tin và bảo đảm quyền tham gia, giám sát của cộng đồng dân cư.

Đối với tiêu chí xác định yếu tố nhạy cảm về môi trường tại điểm b khoản 1 Điều 28, đại biểu bày tỏ quan ngại trước đề xuất lược bỏ hai tiêu chí “khu dân cư tập trung” và “nguồn nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt” khỏi nội hàm yếu tố nhạy cảm về môi trường cần xem xét khi thực hiện đánh giá tác động môi trường.

Theo đại biểu, việc điều chỉnh này có thể làm thu hẹp phạm vi dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường tại những khu vực đông dân cư và nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường sống của người dân, nhất là trẻ em, người cao tuổi và các nhóm dễ bị tổn thương.

Do đó, đại biểu Nguyễn Phi Hùng đề nghị giữ lại hai tiêu chí nêu trên tại điểm b khoản 1 Điều 28, đồng thời giao Chính phủ quy định các ngưỡng định lượng cụ thể để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong tổ chức thực hiện.

Liên quan đến Điều 29 và Điều 32 về tham vấn cộng đồng và đánh giá tác động sinh kế, đại biểu cho rằng, quy định báo cáo đánh giá tác động môi trường phải có kết quả tham vấn là cần thiết nhưng chưa đủ để bảo đảm người dân thực sự tham gia vào quá trình xem xét, quyết định các dự án có ảnh hưởng đến mình.

Đại biểu đề nghị bổ sung tại điểm c khoản 1 Điều 32 yêu cầu đánh giá đầy đủ tác động của dự án đối với sinh kế, đời sống kinh tế - xã hội, di dân, tái định cư và di sản văn hóa của cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng. Đồng thời, cần quy định chủ dự án và cơ quan thẩm định phải lập, công khai bản giải trình việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến tham vấn của nhân dân, cộng đồng dân cư và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Theo đại biểu, việc công khai giải trình góp phần nâng cao trách nhiệm của chủ dự án và cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm hoạt động tham vấn thực chất hơn, đồng thời hạn chế nguy cơ phát sinh khiếu nại, tranh chấp trong quá trình triển khai dự án.

Về vai trò giám sát của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại các Điều 4, 75 và 157, đại biểu Nguyễn Phi Hùng cho rằng, dự thảo đã đề cập trách nhiệm tuyên truyền, vận động, giám sát và phản biện xã hội về bảo vệ môi trường, nhưng cần làm rõ hơn nghĩa vụ giải trình của cơ quan nhà nước đối với các kiến nghị giám sát.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 4 nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền giám sát và quyền yêu cầu giải trình của nhân dân. Tại Điều 157, cần quy định cơ quan nhà nước phải trả lời bằng văn bản, giải trình đối với kiến nghị giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời hạn tối đa 30 ngày.

Hoàn thiện thị trường carbon, sử dụng hiệu quả nguồn lực bảo vệ môi trường

Góp ý về nguồn lực dành cho công tác bảo vệ môi trường và cơ chế thị trường carbon, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) bày tỏ đồng tình với đề xuất bố trí 2% tổng chi ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường.

Theo đại biểu, đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống, sức khỏe và điều kiện sinh sống của người dân, đồng thời có thể để lại những hệ lụy lâu dài. Vì vậy, đầu tư cho các công trình, nhiệm vụ và hoạt động bảo vệ môi trường cũng là đáp ứng yêu cầu thực tế và nguyện vọng của người dân.

Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh việc sử dụng nguồn ngân sách này phải rõ ràng, công khai và đánh giá được kết quả. Nguồn lực cần được phân bổ có trọng tâm, ưu tiên giải quyết những điểm nghẽn đã được xác định, tập trung vào thu gom, xử lý chất thải và khắc phục ô nhiễm. Nếu phân bổ dàn trải, manh mún, kinh phí sẽ khó giải quyết hiệu quả những vấn đề môi trường trực tiếp mà người dân đang bức xúc.

Đối với thị trường carbon quy định tại Điều 139, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa đồng tình với việc tạo thêm động lực kinh tế cho công tác bảo vệ môi trường thông qua giảm phát thải khí nhà kính. Để cơ chế này khả thi, cần có phương pháp đo đếm, xác nhận kết quả giảm phát thải rõ ràng, bảo đảm tín chỉ carbon được hình thành có thể giao dịch. Qua đó, doanh nghiệp và người dân có thêm động lực đầu tư công nghệ, bảo vệ rừng và phát triển các hoạt động sản xuất nông nghiệp ít phát thải.

Đại biểu đề nghị rà soát các quy định tại Điều 3 và Điều 159 để làm rõ kết quả giảm phát thải được phép giao dịch trực tiếp hay phải được xác nhận dưới dạng tín chỉ carbon. Đồng thời, cần thống nhất thuật ngữ và thẩm quyền của các cơ quan trong việc thẩm định, xác nhận, cấp hoặc công nhận tín chỉ, tránh quy định chưa đồng nhất giữa các điều khoản gây khó khăn khi triển khai.

Một nguyên tắc được đại biểu nhấn mạnh là tín chỉ carbon phải phản ánh kết quả giảm phát thải thực chất. Việc mua tín chỉ không thể thay thế trách nhiệm xử lý nước thải, chất thải và các nghĩa vụ bảo vệ môi trường khác của doanh nghiệp. Vì vậy, nguyên tắc này cần được làm rõ trong luật để bảo đảm thị trường carbon thực sự đóng góp vào mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ môi trường.

Đối với khoản 6 Điều 39, đại biểu đồng tình với việc giao Chính phủ quy định, hướng dẫn một số nội dung liên quan, đồng thời đề nghị các văn bản hướng dẫn cần quan tâm đến cơ chế hỗ trợ người dân tham gia tạo tín chỉ carbon. Theo đại biểu, cơ chế để người dân yên tâm tham gia lĩnh vực này vẫn cần được làm rõ hơn, giúp các chủ thể nhìn thấy lợi ích cụ thể khi đóng góp vào quá trình giảm phát thải khí nhà kính.

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa cho rằng, Việt Nam có vai trò quan trọng trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính nhờ điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và tiềm năng giảm phát thải ở nhiều lĩnh vực. Do đó, các quy định cần tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia hiệu quả vào quá trình này.

Từ khóa: môi trường, Luật Bảo vệ môi trường, sửa đổi luật môi trường, quản lý rủi ro môi trường, phân loại rác tại nguồn, thu gom và xử lý chất thải, đánh giá tác động môi trường, giám sát cộng đồng, thị trường carbon, tín chỉ carbon, ngân sách bảo vệ môi trường

Thể loại: Nội chính

Tác giả: văn ngân/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập