Nghị quyết 27: Hợp tác công - tư cần được nhìn nhận là “đối tác chiến lược”
Cập nhật: 4 giờ trước
Đồng Tháp xử lý bước 1 đối với 646 cơ sở nhà, đất dôi dư
Cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu xói lở: Tiền nghìn tỷ, trách nhiệm ở đâu?
VOV.VN - Nhu cầu đầu tư lớn trong khi ngân sách Nhà nước còn hạn chế đặt ra yêu cầu huy động mạnh nguồn lực tư nhân. Muốn thu hút dòng vốn này, hợp tác công - tư (PPP) cần được nhìn nhận và triển khai như một quan hệ đối tác chiến lược, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Nền kinh tế đang đứng trước một chu kỳ tăng trưởng mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững, nhưng đi kèm với đó thì cần có một nguồn vốn đầu tư khổng lồ. Những năm gần đây, đầu tư tư nhân đã và đang trở thành động lực chính, chiếm hơn 50% tổng vốn đăng ký đầu tư tài sản cố định.
Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% đến năm 2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng.
“Trong đó, vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng, còn khu vực tư nhân trong và ngoài nước đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng – tương đương 65% tổng nhu cầu vốn. Như vậy, vốn cần huy động từ khu vực tư nhân chiếm gần 2/3 tổng vốn đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn khác”, ông Lực cho hay.
Để thu hút nguồn vốn tư nhân, Chính phủ đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng về khung pháp lý, trong đó Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công - tư PPP (sửa đổi) cho phép các doanh nghiệp dự án hạ tầng được chào bán trái phiếu riêng lẻ ra công chúng và niêm yết ngay sau khi phát hành. Đồng thời, Nhà nước cũng đang tăng mức đóng góp vốn chủ sở hữu trong các dự án để giảm gánh nặng nợ và nâng cao chất lượng tín nhiệm cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính) cho rằng, mặc dù đã có khung pháp lý về hợp tác công-tư và nhiều chủ trương thúc đẩy cải cách môi trường kinh doanh, nhưng việc thực thi còn phân mảnh, thiếu nhất quán, chồng chéo trách nhiệm giữa các bộ, ngành dẫn tới tình trạng chính sách khó đi vào cuộc sống. Khoảng cách giữa chính sách và thực thi đang trở thành điểm nghẽn. Các dự án PPP tập trung chủ yếu vào lĩnh vực truyền thống như giao thông, năng lượng, trong khi những ngành có nhu cầu cấp thiết như công nghệ số, y tế, giáo dục, môi trường lại gần như vắng bóng. Điều này phản ánh một thực tế PPP chưa trở thành công cụ chiến lược, mới chỉ dừng ở mức thử nghiệm nhỏ lẻ.
“Nguyên nhân xuất phát từ cơ chế thiếu nhất quán nên khó khuyến khích được khu vực tư nhân tham gia. Khung pháp lý thiếu ổn định, thiếu tính dự báo, hướng dẫn triển khai chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng luật có nhưng khó thực thi, khiến nhà đầu tư không yên tâm gắn bó với các dự án PPP dài hạn. Cơ chế chia sẻ rủi ro còn bất cập, gánh nặng rủi ro dồn nhiều về các nhà đầu tư trong phần lớn các dự án PPP, trong khi bảo lãnh của Nhà nước về doanh thu tối thiểu, tỷ giá, chuyển đổi ngoại tệ còn mờ nhạt. Cách tiếp cận theo hướng Nhà nước giữ quyền lợi, doanh nghiệp chịu rủi ro làm mất đi tinh thần cốt lõi cùng chia sẻ, cùng phát triển của PPP. Một khi trách nhiệm không song hành cùng lợi ích thì PPP tất yếu trở thành hình thức”, ông Lâm phân tích.
Ngoài ra, hệ thống tài chính chưa tạo điều kiện cho PPP phát triển. Vốn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào kênh tín dụng ngân hàng, trong khi PPP đòi hỏi nguồn vốn ổn định dài hạn bởi một dự án PPP dài hạn không thể tồn tại trong môi trường vốn ngắn hạn. Thị trường vốn chưa đầy đủ, thiếu các công cụ bảo lãnh và quỹ hỗ trợ rủi ro khiến nhà đầu tư khó tiếp cận nguồn lực. Đáng nói, tâm lý e dè, thiếu sự tin cậy lẫn nhau giữa tư nhân và Nhà nước khiến nhiều cơ hội hợp tác bị bỏ lỡ. Doanh nghiệp thì lo ngại rủi ro chính sách và sự can thiệp hành chính của cơ quan quản lý... Vì thế, một khi chưa tạo dựng được niềm tin, PPP khó trở thành bệ đỡ và động lực cho phát triển.
Tất cả các nguyên nhân trên đều chỉ ra rằng, tư nhân chỉ thực sự tham gia khi việc hợp tác công-tư PPP có một cơ chế hợp tác đủ rõ ràng, ổn định, tin cậy và được đặt trong môi trường trường pháp lý có tính dự báo cao, ổn định lâu dài cùng với cơ chế chia sẻ rủi ro... và điều quan trọng là phải tạo được hiệu quả tài chính đủ “hấp dẫn” để thu hút nhà đầu tư tư nhân.
Kênh vốn tín dụng ngân hàng đã gần tới giới hạn về tỷ lệ đòn bẩy. Theo Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Dự kiến năm 2026 nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 5,1 triệu tỷ đồng; giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn ngân hàng. Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng, công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn - điều này tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
Nghị quyết 27 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đã nhấn mạnh, xây dựng cơ chế khơi thông, kích hoạt các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, trong đó ưu tiên các hình thức đầu tư tư nhân, hợp tác công-tư PPP.
Ông Nguyễn Bích Lâm cho rằng, để hợp tác công - tư thực sự trở thành công cụ chiến lược của nền kinh tế, trước hết Nhà nước cần hoàn thiện khung thể chế đồng bộ, ổn định, minh bạch; chuyển từ tư duy "xin - cho" sang tư duy "cùng kiến tạo" thì PPP mới trở thành nền tảng cho sự phát triển.
“Ngoài phạm vi hạ tầng truyền thống, Chính phủ cần mở rộng triển khai mạnh mẽ PPP ở các lĩnh vực năng lượng tái tạo, đô thị thông minh, y tế, giáo dục, đổi mới sáng tạo... Đây không chỉ là giải pháp xử lý nhu cầu vốn đầu tư khổng lồ, mà còn là phương thức đưa doanh nghiệp tư nhân vào quỹ đạo của các chuẩn mực và chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, Chính phủ cần nâng cao năng lực quản trị dự án PPP và phát triển thị trường vốn dài hạn. Lựa chọn, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức ở các bộ, ngành, địa phương am hiểu về PPP là điều kiện bảo đảm các dự án PPP được chuẩn bị, thẩm định và giám sát minh bạch.Hình thành quỹ hỗ trợ đầu tư PPP, quỹ bảo lãnh rủi ro, thị trường trái phiếu dài hạn để tạo nền tảng tài chính bền vững cho các dự án PPP có vòng đời nhiều thập kỷ”, ông Lâm nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang nỗ lực đạt tăng trưởng cao, bền vững và huy động các nguồn lực để phục vụ cho mục tiêu phát triển, hợp tác công-tư cần được nhìn nhận như mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Nhà nước và tư nhân, cùng chia sẻ trách nhiệm, rủi ro, cùng hưởng lợi ích để PPP không chỉ là công cụ chính sách, mà còn trở thành động lực phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: nghị quyết 27, hợp tác công-tư, nghị quyết 27, đối tác chiến lược, doanh nghiệp, dự án PPP
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: lê thanh - ctv phượng ngọc/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN