Ngành hàng tỷ đô không thể quản bằng những mã số trên giấy

Cập nhật: 46 phút trước

VOV.VN - Sầu riêng Việt Nam đã trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ đô. Quản lý mã số vùng trồng phải chuyển từ “cấp cho đủ” sang “quản cho đúng”, từ tiền kiểm hồ sơ sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng. Mã số phải gắn đúng vùng, đúng người sản xuất; lô hàng phải truy xuất được đến nơi trồng.

Sầu riêng Việt Nam đã trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ đô, nhưng đằng sau những con số tăng trưởng là những lỗ hổng quản trị đặt cả ngành hàng trước phép thử về minh bạch và niềm tin thị trường. Từ mã số vùng trồng đến truy xuất nguồn gốc, chất lượng và xuất khẩu, vấn đề không còn của riêng một địa phương hay doanh nghiệp. Làm gì để “tấm hộ chiếu” sầu riêng thực sự minh bạch, bảo vệ người sản xuất và giữ niềm tin của thị trường quốc tế là bài toán các bộ, ngành và địa phương phải giải quyết.

Tăng trưởng nóng, quản trị hụt hơi

Tây Nguyên hiện có gần 100.000ha sầu riêng, nhưng mới hơn 700 mã số vùng trồng với khoảng 22.600ha được cấp, tương đương 22,6% diện tích. Khoảng cách này cho thấy quản trị ngành hàng "tỷ đô" chưa theo kịp tốc độ phát triển, trong khi những điểm nghẽn về truy xuất nguồn gốc, cơ sở đóng gói và phòng kiểm nghiệm đặt ngành hàng trước nguy cơ lớn.

Trước khi vào vụ sầu riêng năm nay, ông Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk cảnh báo: “Liên quan đến truy xuất nguồn gốc, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và phòng kiểm nghiệm, không giải quyết sớm việc này thì có khi phải giải cứu sầu riêng trong mùa này.”

Bà Nguyễn Thị Hồng Thu, doanh nghiệp xuất khẩu sầu riêng ở Đắk Lắk cho rằng, phát triển quá “nóng” trong khi nền tảng quản trị chưa theo kịp đang đẩy doanh nghiệp vào thế khó.

“Doanh nghiệp rất lo lắng, không biết hướng đi thế nào cho hợp lý, hợp pháp cho xuất khẩu quả sầu riêng. Bởi vì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói rất là ít. Doanh nghiệp gánh nặng hai vai: vừa mua được hàng, vừa bán được hàng, lại phải đáp ứng đủ điều kiện pháp lý.”- bà Nguyễn Thị Hồng Thu nêu tâm tư.

Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở áp lực của doanh nghiệp hay sự thiếu hụt mã số. Chuyên gia nông nghiệp Nguyễn Thị Thành Thực, cho rằng, phía sau những vụ việc bị phát hiện sai phạm là câu hỏi lớn hơn: Vì sao các vi phạm có thể kéo dài trong một ngành hàng đã được quản lý bằng cả hệ thống quy định?

“Việc minh bạch và công bằng hay không nằm trong tay cơ quan quản lý Nhà nước, không nằm trong tay doanh nghiệp. Chính vì sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan quản lý sinh ra cực kỳ nhiều tiêu cực, sinh ra một lực lượng đi làm luật trung gian.” - bà Nguyễn Thị Thành Thực nói.

Cảnh báo nhiều năm, lỗ hổng vẫn còn đó

Điều đáng đặt câu hỏi là những dấu hiệu này không phải đến năm 2026 mới xuất hiện. Từ năm 2022, tình trạng mạo danh vùng trồng, sử dụng mã số không đúng đã được cảnh báo. Sau đó, người dân tiếp tục phản ánh; các vụ việc liên quan hồ sơ, ủy quyền, sử dụng mã số tiếp tục phát sinh; đến năm 2025 và 2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố nhiều bị can trong vụ án liên quan hoạt động xuất khẩu sầu riêng.

Nhưng xử lý sai phạm sau khi đã xảy ra chỉ là bước cuối cùng của quản lý. Với ngành hàng đã đạt giá trị tỷ đô, điều cần thiết hơn là phải bịt những lỗ hổng cho phép sai phạm phát sinh và kéo dài.

Vậy vì sao cảnh báo đã có từ năm 2022 nhưng sai phạm vẫn có thể kéo dài qua nhiều mùa vụ? Câu trả lời không thể chỉ là có người cố tình vi phạm. Nếu mã số được cấp sai, sử dụng sai hoặc sử dụng vượt năng lực vùng trồng mà không được phát hiện kịp thời, vấn đề nằm ở cả hệ thống kiểm soát: dữ liệu chưa liên thông, hậu kiểm chưa đủ mạnh và trách nhiệm giữa các khâu chưa được xác định rõ.

Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ NN&MT thừa nhận những kẽ hở trong hệ thống cấp và quản lý mã số trước đây dẫn đến những sai phạm, tiêu cực:

“Trước đây, hệ thống cấp và quản lý mã số của vùng trồng chưa thực hiện được trên môi trường toàn trình, do vậy vẫn có những kẽ hở trong quá trình cấp, sử dụng mã số vùng trồng. Các đối tượng sẽ lợi dụng trong việc mua bán và trao đổi mã số vùng trồng với mục đích trục lợi.”-Ông Nguyễn Quốc Mạnh cho biết.

Khoảng trống nằm ở khâu hậu kiểm

Như vậy, khoảng trống quản trị không chỉ nằm ở khâu cấp mã, mà còn nằm ở khả năng nhận biết một mã số đang được sử dụng như thế nào sau khi được cấp.

Một mã số vùng trồng lúc này phải trả lời được ít nhất bốn câu hỏi: Ai sản xuất? Ở đâu? Sản lượng bao nhiêu? Hàng đã đi đâu?

Quản lý mã số cần kiểm soát từ hồ sơ, kiểm tra thực tế đến hậu kiểm; sản lượng vượt ngưỡng phải được hệ thống cảnh báo. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết đang chuyển quản lý mã số về cấp xã, tăng hậu kiểm và hướng tới mã định danh thửa đất.

“Phải chuyển mạnh từ quản lý sang phục vụ. Trước khi cấp phép thì chủ yếu là khai báo, sau khi cấp phép xong thì sẽ hậu kiểm. Sẽ tăng hậu kiểm và tăng sự minh bạch. Những vi phạm sẽ bị xử lý, kể cả người dân và doanh nghiệp không tuân thủ quy định làm ảnh hưởng đến cả chuỗi sản xuất.” - ông Hiệp nói.

Phân cấp chỉ hiệu quả khi đi kèm dữ liệu, công cụ và trách nhiệm rõ ràng. Hệ thống dữ liệu truy xuất cần liên thông giữa Trung ương, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Mã số phải kết nối toàn bộ chuỗi từ thửa đất, người sản xuất, sản lượng đến nơi đóng gói và lô hàng xuất khẩu; bất thường phải được cảnh báo kịp thời.

Từ phía người sản xuất, ông Nguyễn Hữu Cường, ở thôn Tân Đức, xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk cho rằng, điều quan trọng nhất là người nông dân phải trở thành chủ thể của mã số vùng trồng.

“Người nông dân phải làm chủ mã số vùng trồng, được hưởng quyền lợi trực tiếp từ mã vùng trồng trên mảnh vườn của mình.”

Khi người dân biết vườn cây mình có mã số nào, ai được quyền sử dụng và sản lượng được ghi nhận ra sao, họ cũng trở thành một mắt xích giám sát của hệ thống.

Từ “cấp cho đủ” sang “quản cho đúng”

Năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước khoảng 200.000ha, sản lượng hơn 2 triệu tấn, giá trị xuất khẩu dự kiến vượt 4 tỷ USD - quy mô đòi hỏi quản trị tương xứng.

Tại cuộc họp ngày 10/8 về thực hiện Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh những sai phạm trong cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói vừa qua là “bài học rất là đắt giá, đau xót”, đồng thời yêu cầu gắn trách nhiệm cụ thể với người đứng đầu các địa phương:

“Địa phương nào mà để ách tắc việc cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, rồi các cơ sở kiểm nghiệm thì Chủ tịch UBND tỉnh phải chịu trách nhiệm. Phải rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích sầu riêng, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả, tổ chức sản xuất gắn với liên kết chuỗi và nhu cầu thị trường.” -Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chỉ đạo.

Thông điệp này cho thấy quản lý mã số phải chuyển từ “cấp cho đủ” sang “quản cho đúng”, từ tiền kiểm hồ sơ sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng. Mã số phải gắn đúng vùng, đúng người sản xuất; lô hàng phải truy xuất được đến nơi trồng.

Bịt những lỗ hổng quản trị không chỉ để xử lý sai phạm, mà để giữ niềm tin và uy tín của cả ngành hàng. Sầu riêng Việt Nam đã bước vào sân chơi tỷ đô. Muốn giữ thị trường, sầu riêng Việt Nam phải không chỉ sản xuất tốt hơn, mà còn phải quản trị tốt hơn.

Cùng loạt bài

Mã số vùng trồng sầu riêng - “tấm hộ chiếu” bị đánh cắp

“Chợ ngầm” phía sau những “tấm hộ chiếu” sầu riêng

Từ khóa: mã số vùng trồng sầu riêng, ngành hàng, sầu riêng, mã số, Tây Nguyên, ngành hàng tỷ đô, mã số vùng trồng,xuất khẩu sầu riêng

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: công bắc/vov-tây nguyên

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập