Mỹ tăng tốc sản xuất SM-3, gia cố lá chắn thép bảo vệ hạm đội
Cập nhật: 38 phút trước
Sôi động Giải bóng đá cộng đồng người Việt tại Nhật Bản
Mỹ tăng tốc sản xuất SM-3, gia cố lá chắn thép bảo vệ hạm đội
VOV.VN - Mỹ đang mở rộng quy mô sản xuất tên lửa đánh chặn SM-3 trong bối cảnh Lầu Năm Góc nỗ lực tăng cường khả năng sẵn sàng phòng thủ tên lửa của hải quân.
Việc Mỹ sản xuất tên lửa đánh chặn SM-3 còn nhằm mục đích ứng phó với các mối đe dọa ngày càng gia tăng từ tên lửa đạn đạo của Iran, Triều Tiên và tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Các thỏa thuận với Boeing và RTX được công bố ngày 14/8/2026 nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong chuỗi sản xuất, vốn có thể làm chậm quá trình bổ sung kho tên lửa đánh chặn Aegis trong các chiến dịch tác chiến kéo dài.
Nỗ lực này tập trung tăng năng lực sản xuất các linh kiện quan trọng cho hai biến thể SM-3 Block IB và Block IIA, qua đó giúp Hải quân Mỹ duy trì lượng tên lửa đánh chặn dự trữ lớn hơn để đáp ứng nhu cầu trong các chiến dịch có cường độ cao và kéo dài. Động thái đó cũng cho thấy tầm quan trọng ngày càng lớn của việc bảo đảm nguồn cung tên lửa đánh chặn ổn định.
Theo các thỏa thuận mới, Boeing sẽ mở rộng sản xuất các cụm linh kiện chính của tên lửa SM-3, trong khi Raytheon, công ty con của RTX, tiếp tục đảm nhiệm công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh tên lửa đánh chặn. Đây là bước đi đáng chú ý bởi khả năng duy trì năng lực phòng thủ tên lửa của Mỹ không chỉ phụ thuộc vào hiệu suất của tên lửa đánh chặn, mà còn vào khả năng của ngành công nghiệp quốc phòng trong việc nhanh chóng bổ sung số tên lửa đã được sử dụng trong tác chiến.
SM-3 là thành phần chủ chốt của hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis triển khai trên các tàu chiến. Tên lửa này được thiết kế để đánh chặn tên lửa đạn đạo bên ngoài khí quyển trong giai đoạn giữa quỹ đạo bay, qua đó cung cấp cho tàu chiến Hải quân Mỹ khả năng phòng thủ cơ động trước các mối đe dọa tên lửa trong khu vực.
SM-3 Block IIA hiện là biến thể có năng lực tác chiến cao nhất trong dòng tên lửa này. Được Mỹ và Nhật Bản cùng phát triển, Block IIA có thân tên lửa lớn hơn, động cơ mạnh hơn và đầu đạn động năng được cải tiến, cho phép đánh chặn các mục tiêu tên lửa đạn đạo tốc độ cao với quỹ đạo phức tạp trên phạm vi bảo vệ rộng hơn.
Một trong những thách thức đối với tác chiến phòng thủ tên lửa là khả năng duy trì số lượng đạn dự trữ sẵn sàng khai hỏa, thường được gọi là “độ sâu kho đạn”. Các tàu khu trục lớp Arleigh Burke sử dụng hệ thống phóng thẳng đứng Mk 41 để mang nhiều loại vũ khí, trong đó có tên lửa đánh chặn đạn đạo SM-3, tên lửa phòng không SM-6 và SM-2, tên lửa hành trình Tomahawk cùng các loại vũ khí khác.
Mỗi quả SM-3 được phóng đi đồng nghĩa với việc số tên lửa sẵn sàng cho các đợt giao tranh tiếp theo giảm xuống. Trong một chiến dịch kéo dài, vấn đề không chỉ nằm ở khả năng của một tàu khu trục trong việc đánh chặn tên lửa đạn đạo, mà còn ở tốc độ vận chuyển và bổ sung tên lửa đánh chặn từ các cơ sở sản xuất tại Mỹ cho lực lượng triển khai.
Mối quan ngại này càng được chú ý khi các hoạt động tác chiến gần đây cho thấy số lượng tên lửa đánh chặn hải quân hiện đại có thể tiêu hao nhanh trong các đợt tấn công kéo dài. Hải quân Mỹ đã sử dụng SM-3 trong thực chiến để hỗ trợ bảo vệ Israel trước các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran.
Cuộc xung đột Mỹ- Iran cho thấy rõ những thách thức đối với năng lực phòng thủ tên lửa. Các cuộc tấn công bằng tên lửa quy mô lớn có thể buộc bên phòng thủ triển khai nhiều lớp đánh chặn, trong khi các đợt tấn công liên tiếp có khả năng làm giảm nhanh lượng tên lửa đánh chặn dự trữ, ngay cả khi phần lớn các mối đe dọa đều bị triệt hạ thành công.
Trong bối cảnh đó, việc mở rộng năng lực sản xuất SM-3 không chỉ nhằm tăng số lượng tên lửa trong kho, mà còn hướng tới bảo đảm khả năng bổ sung vũ khí với tốc độ đủ nhanh để duy trì năng lực phòng thủ trong các chiến dịch có cường độ cao và kéo dài.
Vẫn chưa rõ Mỹ sẽ cần bao nhiêu tên lửa SM-3 trong một cuộc xung đột quy mô lớn bởi nhu cầu thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như số lượng và chủng loại tên lửa tấn công, đặc điểm tác chiến, các mục tiêu cần bảo vệ và số lượng tên lửa đánh chặn được phân bổ cho từng mối đe dọa.
Giả sử lực lượng Aegis phải đối phó với 20 tên lửa đạn đạo trong một đợt tấn công quy mô lớn và các chỉ huy quyết định sử dụng hai tên lửa đánh chặn cho mỗi mục tiêu nhằm tăng xác suất đánh chặn thành công. Khi đó, họ có thể cần tới khoảng 40 lượt phóng tên lửa đánh chặn. Nếu xảy ra ba đợt tấn công tương tự, số tên lửa được sử dụng có thể lên tới khoảng 120 quả.
Đây chỉ là phép ước lượng, không phản ánh chính xác học thuyết tác chiến của Mỹ. Một số mục tiêu có thể chỉ cần một tên lửa đánh chặn, trong khi những mục tiêu khác có thể đòi hỏi nhiều lần phóng bổ sung hoặc sự phối hợp với các hệ thống phòng thủ tên lửa khác. Dù vậy, phép tính này cho thấy một vấn đề cốt lõi: tốc độ tiêu thụ tên lửa đánh chặn trong chiến đấu có thể tăng nhanh hơn đáng kể so với năng lực sản xuất của ngành công nghiệp quốc phòng.
Lầu Năm Góc chưa công bố mục tiêu sản xuất hằng năm mới đối với hai biến thể SM-3 Block IB và Block IIA. Việc thiếu thông tin này khiến khó đánh giá chính xác tốc độ Mỹ có thể bổ sung kho tên lửa đánh chặn sau khi chúng được sử dụng trong tác chiến.
Thách thức chính nằm ở yếu tố thời gian. Mở rộng năng lực công nghiệp không đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ ngay lập tức có thêm tên lửa SM-3 cho các tàu chiến. Các linh kiện phải được sản xuất, thử nghiệm, lắp ráp thành tên lửa hoàn chỉnh và trải qua quy trình nghiệm thu trước khi được đưa vào kho dự trữ sẵn sàng chiến đấu.
Điều đó cho thấy Washington cần tăng năng lực sản xuất trước khi một cuộc khủng hoảng lớn xảy ra. Trong các cuộc xung đột cường độ cao, tốc độ tiêu thụ tên lửa đánh chặn tiên tiến có thể vượt đáng kể tốc độ sản xuất và bổ sung chúng vào kho dự trữ.
Đối với Hải quân Mỹ, bài toán chiến lược ngày càng rõ ràng. Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis (Aegis BMD) mang lại năng lực đánh chặn đáng kể, nhưng khả năng duy trì hoạt động trong thời gian dài phụ thuộc cả vào số lượng tên lửa đánh chặn sẵn có và khả năng của ngành công nghiệp quốc phòng trong việc nhanh chóng bổ sung số vũ khí đã sử dụng. Trong cuộc đối đầu với Iran, yếu tố này có thể ảnh hưởng đến thời gian các tàu chiến Mỹ duy trì hoạt động phòng thủ tên lửa liên tục trong khu vực.
Từ khóa: mỹ, Mỹ, vũ khí Mỹ hiện đại, tên lửa SM-3, tên lửa đánh chặn, phòng thủ tên lửa, hải quân Mỹ, hạm đội Mỹ, Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis, tàu khu trục lớp Arleigh Burke, tên lửa phòng không SM, Iran, Triều Tiên, quốc phòng, Lầu Năm Góc
Thể loại: Tin tức sự kiện
Tác giả: hồng anh/vov.vn (tổng hợp)
Nguồn tin: VOVVN