Lý do khối quân sự NATO sẽ không sụp đổ

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Bất chấp những khủng hoảng vừa qua, liên minh quân sự lâu đời NATO của phương Tây nhiều khả năng sẽ phát triển theo hướng đáp ứng các yêu cầu của Mỹ về một châu Âu mạnh mẽ hơn.

Ép đồng minh chi thêm tiền nhưng Mỹ không bỏ rơi NATO

Các nước châu Âu thành viên NATO đang miễn cưỡng đối mặt với thực tế là sau hơn 75 năm, họ phải gánh vác trách nhiệm chính về quốc phòng của bản thân mình trong khuôn khổ NATO. Họ không còn có thể trông chờ vào Mỹ tiếp tục là người bảo hộ toàn diện cho mình nữa. Tranh cãi về đảo lớn Greenland (Đan Mạch) thậm chí còn làm gia tăng lo ngại rằng Mỹ có thể rút hoàn toàn khỏi liên minh NATO.

Tuy nhiên, Chiến lược Quốc phòng quốc gia Mỹ năm 2026 vừa được công bố lại chỉ ra điều ngược lại: Mỹ không bỏ rơi NATO. Khoảng 80.000 binh sĩ Mỹ đóng quân ở châu Âu, và không có dấu hiệu nào cho thấy các căn cứ sẽ bị đóng cửa hoặc nhân sự và vật tư sẽ được đưa trở về Mỹ. Căn cứ quân sự lớn nhất ở Đức vẫn là của Mỹ chứ không phải của Đức.

Lực lượng Mỹ vẫn tham gia đầy đủ với các đồng minh châu Âu, dù là tiến hành các cuộc diễn tập bộ binh chung hay là hoạt động ở Ba Lan và Latvia, hoặc tiến hành các cuộc xuất kích với chiến hạm của các đồng minh NATO ở Biển Baltic hoặc Địa Trung Hải. Mỹ không hề im lặng trong NATO. Chiến lược Quốc phòng quốc gia Mỹ năm 2026 (NDS) nêu rõ rằng Mỹ sẽ “tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chính NATO…”.

Điều khác biệt mới chỉ là Mỹ hiện đang liên tục gây áp lực lên các đồng minh để chia sẻ gánh nặng quốc phòng lớn hơn. Nhờ ngoại giao của Mỹ và xung đột vũ trang ở Ukraine, các đồng minh châu Âu đã cam kết tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở La Hay năm 2025 rằng họ sẽ tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP quốc gia. NDS tái khẳng định rằng trong khi Mỹ sẽ “ưu tiên các biện pháp khuyến khích các đồng minh và đối tác chịu trách nhiệm chính về phòng thủ của chính họ ở châu Âu”, Lầu Năm Góc vẫn sẽ tiếp tục cung cấp “sự hỗ trợ trọng yếu nhưng có giới hạn hơn từ phía Mỹ”.

Mỹ xác định tự mình không giải quyết xuể mọi việc

Lời kêu gọi của Chiến lược Quốc phòng quốc gia Mỹ (NDS) về việc các đồng minh cùng chia sẻ gánh nặng lớn hơn không xuất phát từ tư tưởng cô lập hay sự tức giận về Greenland, mà là từ thực tế Nga không được Washington xem là thách thức toàn cầu duy nhất mà Mỹ phải đối mặt. Cụ thể, NDS chỉ ra rằng quân đội Mỹ phải sẵn sàng đối phó không chỉ với châu Âu, mà còn với Trung Đông, Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên, Tây bán cầu, và thậm chí cả châu Phi, nơi Mỹ gần đây đã tiến hành một chiến dịch quân sự ở Nigeria chống lại các phần tử cực đoan Hồi giáo.

Mỹ đang phải dang hết tay gánh vác trách nhiệm. Kêu gọi các nước thành viên NATO ở châu Âu gánh vác nhiều hơn gánh nặng khu vực của mình, ví thế, là một mệnh lệnh chiến lược. Trên thực tế, khi NATO được thành lập năm 1949, tướng Dwight Eisenhower đã dự đoán rằng vai trò thống trị của quân đội Mỹ trong liên minh sẽ tồn tại thời gian ngắn. Ông nói rằng “nếu trong mười năm, tất cả quân đội Mỹ đóng quân ở châu Âu vì mục đích quốc phòng không được đưa trở về Mỹ, thì toàn bộ dự án này sẽ thất bại”.

Tầm nhìn của tướng Eisenhower về NATO và vai trò tạm thời của Mỹ đã không thành hiện thực, nhưng bù lại, liên minh vẫn tồn tại. Việc giao thêm trách nhiệm vào tay lực lượng vũ trang của châu Âu ở thời điểm này không phải là sự giận dỗi nhất thời về Greenland hay dấu hiệu của chủ nghĩa biệt lập ngày càng gia tăng, mà đó là một sự điều chỉnh chiến lược cần thiết từ lâu giữa các đồng minh có năng lực để giúp Lầu Năm Góc đối phó với những thách thức ngày càng gia tăng ở các khu vực khác trên thế giới.

Phương Tây vỡ mộng về sức mạnh mềm?

Cùng với thách thức xây dựng sức mạnh cứng của châu Âu là nhu cầu châu Âu phải giảm bớt việc lạm dụng quyền lực mềm dựa trên các giá trị. Một sự mất kết nối nguy hiểm đã nảy sinh giữa các mục tiêu quyền lực mềm đầy tham vọng mà Liên minh châu Âu theo đuổi và NATO - năng lực quân sự thực sự của châu Âu.

Hậu quả của các cuộc đàm phán thất bại giữa EU và Ukraine về việc gia nhập EU cho thấy việc sử dụng quyền lực mềm quá mức có thể dẫn đến những kết quả chiến lược tai hại cho cả khối này. Brussels đã hoàn toàn đánh giá thấp phản ứng của Nga trước khả năng Ukraine gia nhập EU. George Kennan đã cảnh báo trong nhiều thập kỷ rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm hội nhập Ukraine vào phương Tây sẽ bị Nga coi là lằn ranh đỏ. Năm 2008, khi William Burns là đại sứ Mỹ tại Nga, ông đã cảnh báo trong một bức điện tín có tiêu đề "Không có nghĩa là không" rằng bất kỳ động thái nào của Ukraine hướng về phương Tây đều có thể gây ra phản ứng cứng rắn từ Nga. Ngay cả cựu Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng có những lo ngại thầm kín về bất kỳ thỏa thuận nào giữa phương Tây và Ukraine.

Tuy nhiên, các nhà đàm phán EU lại coi các cuộc thảo luận về Ukraine chỉ đơn thuần là các vấn đề về kinh tế và quy định mà không có rủi ro an ninh tiềm tàng nào. Trong khi đó, Moscow coi quá trình này là một mối đe dọa chiến lược lớn, được thiết kế để đưa Kiev vững chắc vào phe phương Tây và cuối cùng là NATO. Các nhà ngoại giao thương mại Brussels sau đó đã đưa những đánh giá sai lầm của mình về Moscow lên một tầm cao mới khi gây ra một cuộc tranh cãi chính trị nội bộ lớn không cần thiết ở Ukraine liên quan đến Yulia Tymoshenko - cựu Thủ tướng Ukraine, người đã bị tòa án Ukraine kết tội và tuyên án 7 năm tù vì tội tham nhũng. Brussels tự cho mình quyền coi việc truy tố bà là vi phạm pháp quyền và kêu gọi trả tự do cho bà như một phần của bất kểthỏa thuận nào giữa EU và Kiev.

Yêu cầu đó đã châm ngòi cho một cuộc tranh cãi chính trị gây chia rẽ ở Kiev. Tổng thống Ukraine khi đó, Victor Yanukovych, và những người ủng hộ ông coi bà Tymoshenko là đối thủ chính trị đáng gờm và nguy hiểm nhất của họ. Áp lực từ EU đòi thả bà Tymoshenko đóng vai trò quan trọng trong quyết định của ông Yanukovych ngừng đàm phán với Brussels và theo đuổi đàm phán thương mại với Nga. Đổi lại, động thái hướng về Moscow của ông đã dẫn đến các cuộc biểu tình ở Quảng trường Maidan năm 2014, buộc ông Yanukovych, vị nguyên thủ được bầu cử dân chủ, phải di tản sang Nga.

Ba ngày sau khi ông Yanukovych bị phế truất, lực lượng được cho là của Nga đã xâm nhập bán đảo Crimea. Tuy nhiên, EU vẫn tiếp tục thúc đẩy các cuộc đàm phán với chính phủ mới. Một Hiệp định Hiệp hội EU đã được ký kết vào tháng 3/2014, ngay sau khi Crimea sáp nhập vào Nga.

Từ thời điểm đó đến năm 2022, quá trình hội nhập của Ukraine vào phương Tây ngày càng mạnh mẽ. Năm 2019, Ukraine đã thông qua một sửa đổi hiến pháp, cam kết đất nước trở thành thành viên đầy đủ của EU và NATO. Năm 2022, Nga phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” nhằm vào Ukraine và sau đó là một cuộc xung đột vũ trang đẫm máu kéo dài.

Thực tế này có thể khiến EU nhận định rằng sức mạnh mềm là không đủ để họ đương đầu với Nga.

Một số dấu hiệu về sự trỗi dậy của lực lượng vũ trang châu Âu đang dần xuất hiện. Bên cạnh những cam kết tăng ngân sách quốc phòng, hai đồng minh NATO là Anh và Pháp gần đây đã hợp tác trong một chiến dịch dẫn đến việc lực lượng thủy quân lục chiến Pháp bắt giữ một tàu chở dầu “hạm đội bóng tối” chở dầu của Nga bị trừng phạt.

Xem thêm:

>> Số phận người Kurd Syria khi tiếp tục bị Mỹ bỏ rơi

>> Kịch bản Ukraine và NATO lập vùng cấm bay, ngăn chặn máy bay Nga

>> Nga tố NATO đang tìm cách làm trệch tiến trình hòa bình Ukraine

Từ khóa: nato, sụp đổ, nato đứng vững, nato tiếp tục tồn tại, nato phát triển, eu cần nato, phương tây cần nato, khối quân sự phương tây, tổ chức hiệp ước bắc đại tây dương, quân đội châu âu, đối đầu nga, sức mạnh cứng, sức mạnh mềm, eu, liên minh châu âu, mỹ nato, mỹ châu âu, đáp ứng yêu cầu của mỹ, mâu thuẫn trong nato

Thể loại: Tin tức sự kiện

Tác giả: trí nhân/vov.vn biên dịch

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập