Lấy người dân làm thước đo cuối cùng của mọi quyết sách
Cập nhật: 39 phút trước
VOV.VN - Đo lường giá trị của các quyết sách bằng kết quả thực tế và mức độ người dân được thụ hưởng đang trở thành yêu cầu xuyên suốt trong quản trị hiện đại.
Trao đổi với PV Báo điện tử TNVN, TS. Trương Cộng Hòa, Giám đốc Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP.HCMcho rằng, điều nàynày đòi hỏi sự đổi mới căn bản trong tư duy lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện chính sách.
PV: Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, giá trị của các quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế, bằng việc người dân được thụ hưởng thiết thực hơn. Theo TS, yêu cầu này đặt ra sự thay đổi như thế nào trong tư duy lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện chính sách của các cấp, các ngành trong giai đoạn hiện nay?
TSTrương Cộng Hòa: Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện một yêu cầu đổi mới rất căn bản trong tư duy lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện chính sách. Đó là chuyển từ tư duy chủ yếu chú trọng ban hành nghị quyết, chương trình, kế hoạch sang tư duy chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả; từ quản lý công việc sang quản trị sự phát triển; từ đánh giá bằng quy trình và báo cáo sang đánh giá bằng sản phẩm, dữ liệu, tác động thực tế và mức độ thụ hưởng của nhân dân.
Trước tiêncần nhận thức rõ rằng một quyết sách, dù đúng đắn và có tầm nhìn đến đâu, mới chỉ tạo ra khả năng phát triển. Khả năng đó chỉ trở thành hiện thực khi quyết sách tháo gỡ được điểm nghẽn, khơi thông được nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy và đem lại lợi ích cụ thể cho người dân, DN. Vì vậy, không thể lấy số lượng văn bản đã ban hành, hội nghị đã tổ chức hoặc nhiệm vụ “đã triển khai” làm thước đo chủ yếu. Điều cần đánh giá là thời gian và chi phí xã hội đã giảm bao nhiêu; chất lượng dịch vụ công được cải thiện như thế nào; cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở và an sinh có công bằng hơn không; đời sống, sự hài lòng và niềm tin của người dân chuyển biến ra sao.
Thứ hai, yêu cầu này đòi hỏi phải đổi mới ngay từ khâu hoạch định chính sách. Chính sách không chỉ cần đúng về mục tiêu mà còn phải khả thi trong tổ chức thực hiện. Mỗi chương trình, kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ ưu tiên, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm đầu ra, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Cần khắc phục tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không có một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng. Một nhiệm vụ chỉ nên được coi là hoàn thành khi có sản phẩm thực sự vận hành, có dữ liệu kiểm chứng và tạo ra hiệu quả trong đời sống.
Thứ ba,phải chuyển mạnh từ quản lý theo đầu vào và quy trình sang quản trị theo kết quả và tác động. Tuân thủ pháp luật, thẩm quyền và quy trình vẫn là yêu cầu bắt buộc, nhưng đúng quy trình chưa đồng nghĩa với đạt mục tiêu. Nếu thủ tục đã được thực hiện đầy đủ nhưng vấn đề của người dân vẫn chưa được giải quyết, nguồn lực vẫn ách tắc và cơ hội phát triển vẫn bị bỏ lỡ thì chính sách chưa thể được coi là thành công. Vì vậy, yêu cầu hiện nay là vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, vừa chủ động, linh hoạt và chịu trách nhiệm về hiệu quả cuối cùng.
Thứ tư,phải xây dựng nền quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Dữ liệu cần đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và được chia sẻ theo thẩm quyền. Chuyển đổi số không chỉ là đưa quy trình hiện có lên môi trường điện tử hoặc tạo thêm phần mềm, mà phải giúp tái cấu trúc phương thức quản trị, giảm thủ tục, cảnh báo sớm điểm nghẽn, theo dõi tiến độ và xác định rõ trách nhiệm. Một biểu hiện rất cụ thể của chính quyền phục vụ là không yêu cầu người dân cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Thứ nămphải coi người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia quản trị. Người dân, DN, trí thức, chuyên gia và cán bộ cơ sở cần được tham gia góp ý, giám sát, phản biện và đánh giá chính sách. Phản hồi của xã hội phải trở thành một nguồn dữ liệu quan trọng để kiểm chứng chính sách. Đồng thuận xã hội không chỉ được tạo ra bằng tuyên truyền, mà trước hết bằng chính sách đúng, quá trình thực hiện công bằng, công khai và những kết quả người dân trực tiếp cảm nhận được.
Thứ sáu,yêu cầu này đặt ra sự đổi mới mạnh mẽ trong công tác cán bộ. Đánh giá cán bộ phải gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, uy tín trong tổ chức và tín nhiệm của nhân dân; lấy kết quả thực hiện nghị quyết, chính sách làm căn cứ quan trọng. Người đứng đầu không chỉ giao việc rồi chờ báo cáo, mà phải trực tiếp xử lý việc lớn, việc khó, tháo gỡ điểm nghẽn, lắng nghe cơ sở và chịu trách nhiệm đến cùng. Đồng thời, phải bảo vệ cán bộ liêm chính, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; nhưng cũng phải kiểm soát chặt chẽ việc lợi dụng đổi mới, thí điểm và cơ chế đặc thù để vụ lợi.
PV: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề cập đến việc "điểm nghẽn được tháo gỡ, năng lực mới được tạo lập. Những điểm nghẽn lớn nhất cần ưu tiên xử lý hiện nay là gì, thưa TS?
TSTrương Cộng Hòa: Những điểm nghẽn cần ưu tiên xử lý hiện nay có thể quy về ba nhóm lớn: thể chế, năng lực thực thi và các điều kiện phát triển gồm nhân lực, dữ liệu, hạ tầng. Trong đó, thể chế vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, bởi những quy định chồng chéo, thiếu thống nhất, tư duy tiền kiểm và cơ chế xin - cho có thể làm ách tắc đất đai, vốn, tài sản công và nguồn lực xã hội. Do đó, cần rà soát pháp luật theo từng vấn đề thực tiễn, thực hiện nguyên tắc một vấn đề có một đầu mối, chuyển mạnh sang hậu kiểm và quản trị rủi ro, đồng thời mở rộng không gian thử nghiệm có kiểm soát.
Tuy nhiên, tháo gỡ thể chế mới là mở đường. Muốn quyết sách trở thành kết quả thì phải giải quyết điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện: phân công chưa rõ, phối hợp chưa hiệu quả, né tránh trách nhiệm, quản lý nặng về thủ tục và đánh giá chủ yếu qua báo cáo. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng, có sản phẩm, thời hạn, nguồn lực và dữ liệu kiểm chứng.
"Thước đo cuối cùng là những nguồn lực được khơi thông, những chi phí xã hội được cắt giảm, chất lượng phục vụ được nâng lên và những lợi ích mà người dân thực sự cảm nhận được".
Điểm nghẽn tiếp theo là chất lượng nhân lực, nhất là đội ngũ trực tiếp thực thi ở cấp cơ sở; cùng với đó là dữ liệu chưa liên thông và hạ tầng chưa đồng bộ. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần đặc biệt xử lý tình trạng nhiệm vụ được chuyển xuống nhưng nguồn lực và năng lực chưa chuyển tương ứng. Phân cấp phải đồng bộ với nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công nên phải được bố trí đúng người, đúng chuyên môn và được hỗ trợ xử lý những vấn đề phức tạp.
Đồng thời, phải tháo gỡ sự chia cắt về dữ liệu, hạ tầng và nguồn lực; chuyển đổi số phải giúp người dân giảm giấy tờ, giảm đi lại và giúp lãnh đạo ra quyết định dựa trên bằng chứng. Khoa học, công nghệ cũng phải chuyển từ tư duy hoàn thành đề tài sang giải quyết những bài toán lớn, tạo sản phẩm, năng suất và giá trị thực tế.
Năng lực mới được tạo lập phải được hiểu là năng lực kiến tạo thể chế, năng lực tổ chức thực thi đến cùng, năng lực quản trị dựa trên dữ liệu, năng lực phối hợp liên ngành, liên vùng và năng lực học hỏi, điều chỉnh chính sách.
PV: Thưa TS, trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đâu sẽ là những "thước đo" rõ nhất để người dân cảm nhận được hiệu quả của các quyết sách?
TSTrương Cộng Hòa: Thước đo rõ nhất của mô hình chính quyền địa phương hai cấp không phải là đã giảm bao nhiêu đầu mối, mà là người dân có được phục vụ gần hơn, nhanh hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn và có ít phải đi lại, chờ đợi hơn hay không.
Có thể nhận diện qua một số chỉ dấu rất cụ thể: người dân có dễ tìm đúng cơ quan và người chịu trách nhiệm không; thời gian xử lý có ngắn hơn không; số lần đi lại, số giấy tờ và chi phí có giảm không; cấp xã có giải quyết được công việc đến cùng hay vẫn phải chuyển lên cấp trên; kết quả có đúng, đầy đủ và sử dụng được không; kiến nghị có được phản hồi và giải quyết thực chất không.
Một thước đo đặc biệt quan trọng là người dân có còn phải cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có hay không. Nếu chuyển đổi số tốt, người dân chỉ cần khai báo một lần, hồ sơ được chuyển đúng cơ quan và có thể theo dõi toàn bộ quá trình xử lý.
Bên cạnh đó, cần đo chất lượng cán bộ qua thái độ phục vụ, năng lực hướng dẫn, khả năng giải quyết vấn đề và trách nhiệm đến cùng. Không thể chỉ đánh giá hồ sơ “đúng hạn” trên hệ thống nếu người dân vẫn phải bổ sung nhiều lần hoặc kết quả chưa giải quyết được nhu cầu thực tế.
Tuy nhiên, cải cách thủ tục mới là thước đo gần. Thước đo cuối cùng phải là chất lượng sống và cơ hội phát triển: môi trường có an toàn hơn không, an sinh có đến đúng người không, y tế và giáo dục có dễ tiếp cận hơn không, việc làm và hoạt động kinh doanh có thuận lợi hơn không, các vấn đề phát sinh ở cộng đồng có được xử lý nhanh hơn không.
Vì vậy, cần kết hợp dữ liệu hành chính, khảo sát độc lập và giám sát xã hội; đồng thời công khai kết quả theo từng xã, từng lĩnh vực và từng nhóm dân cư. Có thể khái quát rằng: bộ máy tinh gọn là phương tiện, phục vụ tốt hơn là yêu cầu, còn sự hài lòng, niềm tin và chất lượng sống của nhân dân mới là thước đo cuối cùng.
Từ khóa: quyết sách, VOV, quyết sách, kết quả thực tế, người dân được thụ hưởng, quản trị hiện đại
Thể loại: Nội chính
Tác giả: nguyễn vân/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN