Dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội thu hút vốn FDI cho Việt Nam
Cập nhật: 16 phút trước
Dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội thu hút vốn FDI cho Việt Nam
Hộ kinh doanh cần chính sách thuế rõ ràng, dễ hiểu khi chuyển đổi
VOV.VN - Trước đà dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam đứng trước cơ hội vàng đón dòng vốn FDI công nghệ cao và nâng tầm vị thế xuất khẩu. Dù vậy, bài toán đặt ra là doanh nghiệp nội địa phải nhanh chóng vượt qua rào cản về công nghệ, kết nối và quản trị để không bị bỏ lại ở các công đoạn gia công giá trị thấp
Dòng vốn FDI đang đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mở rộng xuất khẩu và nâng cao hiệu quả thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) của Việt Nam.
Thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ các chuỗi sản xuất và thương mại, dòng vốn FDI cũng đang tìm kiếm những điểm đến mới. Việt Nam đang đứng trước cơ hội đón dòng vốn FDI chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng. Muốn vậy, Việt Nam cần phải vượt qua được các thách thức hiện hữu, có giải pháp để kết nối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Anh Dương - Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược chia sẻ: “Ví dụ, thời gian vừa qua, chúng ta nói nhiều về kinh tế xanh. Thực tế, một doanh nghiệp lớn của châu Âu cũng đang muốn đầu tư vào Việt Nam theo mô hình này, tức là xây dựng nhà máy sản xuất vải, sản phẩm may mặc có sử dụng vải tái chế.
Doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình xây dựng đề xuất dự án. Đây là một mô hình khá mới trong chuỗi cung ứng: Tái chế các sản phẩm đã qua sử dụng để tạo ra nguyên liệu đầu vào mới, đáp ứng các tiêu chuẩn về phát triển bền vững tại nhiều thị trường xuất khẩu. Đối với ngành may mặc, đây là lĩnh vực đi đầu. Nhưng trong thời gian tới, chúng ta sẽ còn nghe nhiều hơn về một số ngành khác, chẳng hạn như tái chế pin ô tô điện đã qua sử dụng. Đây cũng là những lĩnh vực mà hoạt động tái chế đóng vai trò rất quan trọng trong chuỗi cung ứng…”.
Cũng với một tâm thế “chủ động” từ các lợi thế sẵn có của một Việt Nam hội nhập, ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO dẫn chứng: "Chúng ta hiện đứng thứ 15 trên thế giới về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Đáng chú ý, trong khoảng 10 năm qua, xuất nhập khẩu của Việt Nam liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số.
Riêng 8 tháng năm 2026, mức tăng trưởng tiếp tục đạt một con số rất ấn tượng, gần như rất ít nền kinh tế trên thế giới có được. Và với đà tăng trưởng hiện nay, tôi cho rằng mốc 1.000 tỷ USD tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong năm nay là hoàn toàn có cơ sở, thậm chí có thể nói là chúng ta chắc chắn sẽ vượt qua. Chúng ta có lợi thế rất lớn về các FTA. Hiện nay, chúng ta có 17 FTA đang có hiệu lực và còn 2 FTA nữa đang trong quá trình đàm phán. Như vậy, thị trường mà hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế quan cũng như các ưu đãi về hàng rào phi thuế quan đã trải dài trên hơn 100 quốc gia. Các hãng, các tập đoàn quốc tế hiện rất cần một thứ, đó là hàng hóa “Made in Vietnam”. Và đây chính là một lợi thế rất lớn để chúng ta thu hút FDI".
Dòng vốn FDI toàn cầu đang dịch chuyển mạnh vào các ngành công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo nhiều chuyên gia, đây có thể trở thành nguồn lực quan trọng để Việt Nam mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Tuy nhiên, trong các ngành sản xuất, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn chủ yếu thực hiện ở các khâu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp. Nếu không nhanh chóng nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo, Việt Nam có nguy cơ chỉ đảm nhận những công đoạn thấp trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, để từng bước tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn.
Từ nghiên cứu của mình, TS Đỗ Diệu Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới chỉ ra 5 nhóm năng lực cấu thành khả năng đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu. Thứ nhất là năng lực về chất lượng, công nghệ và năng suất. Thứ hai là năng lực về chi phí, quy mô và độ tin cậy trong giao hàng.
Thứ ba là năng lực quản trị, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Thứ tư là năng lực đáp ứng các yêu cầu về môi trường, các-bon, lao động và trách nhiệm xã hội. Và thứ năm là năng lực đổi mới, thích ứng và sức chống chịu. Trên cơ sở 5 nhóm năng lực này, TS Đỗ Diệu Hương đưa ra 4 nhóm khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu ngày càng cao của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo TS Đỗ Diệu Hương: "Giải pháp thứ nhất là cần đổi mới cách tiếp cận trong hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là hỗ trợ tài chính. Thay vì chỉ có một công cụ hỗ trợ, cần chuyển sang cách tiếp cận: chuỗi cần gì, doanh nghiệp đang thiếu năng lực nào thì tập trung hỗ trợ để giải quyết đúng điểm thiếu đó.
Thứ hai là tăng cường liên kết và phát triển doanh nghiệp dẫn dắt. Ở đây, vai trò của Nhà nước là tạo các nền tảng kết nối, giảm chi phí tìm kiếm đối tác cho doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp chia sẻ rủi ro, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ ba là phát triển hạ tầng và các công cụ hỗ trợ. Một nguyên tắc xuyên suốt là nguồn lực công phải giúp doanh nghiệp vượt qua những chi phí và rủi ro ban đầu. Và giải pháp thứ tư là cần đổi mới quản trị, đồng thời đổi mới cách thức theo dõi, đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp".
Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Phạm Văn Quân dẫn chứng từ thực tế trong công tác quản lý nhà nước đối với ngành công nghiệp ô tô, Việt Nam đã có chiến lược phát triển ngành từ rất sớm, trong đó cam kết đến năm 2020 đạt tỷ lệ nội địa hóa 40%. Tuy nhiên, theo Quyết định trình Thủ tướng mới đây, mục tiêu này đã được điều chỉnh giảm xuống, đến năm 2030 phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hoá đạt 30%.
Nguyên nhân được chỉ ra, có việc phải phân bổ nguồn lực cho rất nhiều ngành; nhiều sản phẩm, linh kiện điện tử trong nước chúng ta chưa sản xuất được; có sức ép cạnh tranh từ các nước trong khu vực… và có cả việc thiếu dữ liệu về doanh nghiệp công nghiệp trong nước. Vì thế, một trong những công việc đang được cơ quan quản lý triển khai là xây dựng nền tảng số quản lý công nghiệp.
Ông Phạm Văn Quân cho biết: "Chúng tôi phải tập trung vào 3 trọng tâm để giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong thời gian tới. Trước hết là tập trung đầu tư vào công nghiệp vật liệu, linh kiện; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời ưu tiên những ngành công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Theo Quyết định, các chính sách hỗ trợ sẽ được triển khai theo 4 nhóm, gồm hoàn thiện thể chế; phát triển khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; nâng cấp, vận hành cơ sở dữ liệu; và phát triển thị trường, truyền thông.
Một trọng tâm nữa là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Hiện chúng tôi đang xây dựng một nền tảng số quản lý công nghiệp, với kỳ vọng từng bước hỗ trợ doanh nghiệp kết nối với thị trường.Trước hết là xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng. Ví dụ, Bộ Công Thương đang xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng ngành điện tử, cụ thể là ngành điện thoại, với sự hỗ trợ của phía Hàn Quốc.
Thông qua bản đồ này, có thể đi sâu đến từng chi tiết của một sản phẩm, chẳng hạn một chiếc điện thoại, để biết tại Việt Nam hiện có những nhà cung ứng nào có khả năng sản xuất các linh kiện, sản phẩm đó. Chúng tôi cũng đã triển khai bản đồ chuỗi cung ứng đối với ngành ô tô. Thông qua những bản đồ này, các nhà đầu tư có thể có thêm thông tin về năng lực cung ứng, thị phần, thị trường, cũng như những lĩnh vực mà Việt Nam có khả năng phát triển".
Từ thực tế khu vực FDI chiếm tới hơn 80% kim ngạch xuất nhập khẩu 8 tháng năm nay, theo các chuyên gia, sự mở rộng nhanh của thương mại và xuất khẩu đã đưa Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào mạng lưới sản xuất toàn cầu, nhưng quá trình này chưa chuyển hoá tương xứng thành sự gia tăng vai trò và năng lực tạo giá trị của doanh nghiệp trong nước. Điều quan trọng đặt ra là doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước nâng vị trí của mình trong chuỗi, từ những công đoạn có giá trị gia tăng thấp lên những khâu có giá trị cao hơn.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần chuyển từ hỗ trợ theo công cụ sang hỗ trợ theo nhu cầu của chuỗi. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có thêm nhà cung cấp, mà là có thêm những nhà cung cấp Việt Nam đủ năng lực để gắn bó lâu dài và đi lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ khóa: vốn fdi, vốn fdi, vốn đầu tư nước ngoài, fdi, doanh nghiệp, doanh nghiệp nước ngoài, chuỗi cung ứng toàn cầu,dòng vốn fdi
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: nguyên long/vov1
Nguồn tin: VOVVN