Đại biểu Quốc hội đề nghị con nuôi đã thành niên cần được biết nguồn gốc của mình
Cập nhật: 2 ngày trước
Cần Thơ: Lật phà tự chế, 2 học sinh tử vong
Quân đội xây nhà rông, làm đèn đường tặng Nhân dân biên giới phía Tây tỉnh Gia Lai
VOV.VN - Đại biểu QH Nguyễn Thị Sửu (Đoàn TP Huế) đề nghị quy định rõ trách nhiệm lưu giữ hồ sơ, trình tự tiếp cận thông tin và căn cứ hạn chế cung cấp thông tin về nguồn gốc của con nuôi, bảo đảm quyền được biết của người con nuôi đã thành niên gắn với việc tôn trọng quyền riêng tư của cha mẹ đẻ, những người liên quan
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 19/10, Quốc hội thảo luận tại tổ về các dự án luật sau khi nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra. Tại Tổ Ninh Bình -TP Huế, tham gia góp ý dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Góp ý về Điều 7 của dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Huế cho rằng, việc ghi nhận quyền được biết về nguồn gốc của con nuôi tại khoản 1 là cần thiết. Tuy nhiên, khoản 2 mới dừng ở quy định việc cung cấp thông tin phải phù hợp với pháp luật có liên quan, chưa xác định rõ trách nhiệm lưu giữ hồ sơ, trình tự tiếp cận thông tin cũng như căn cứ hạn chế hoặc từ chối cung cấp thông tin.
Theo đại biểu, nếu thiếu những quy định cụ thể này, quyền đã được luật ghi nhận có thể gặp khó khăn khi triển khai trong thực tế. Một người con nuôi đã thành niên có nhu cầu tìm hiểu về cha mẹ đẻ có thể không biết cơ quan nào đang lưu giữ hồ sơ, phải thực hiện thủ tục gì và cần đáp ứng những điều kiện nào để được tiếp cận thông tin.
Trong tình huống hồ sơ đã được chuyển đến cơ quan khác, đơn vị đang quản lý tài liệu có thể lo ngại việc tiết lộ thông tin ảnh hưởng đến quyền riêng tư của cha mẹ đẻ và những người liên quan. Nếu không có cơ chế giải quyết rõ ràng, người yêu cầu có thể chỉ nhận được câu trả lời chung chung mà không biết căn cứ từ chối hoặc khả năng tiếp cận những thông tin được phép cung cấp.
Từ thực tế có thể phát sinh những vướng mắc như vậy, đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 2 Điều 7 theo hướng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức lưu giữ hồ sơ trong việc bảo quản đầy đủ, an toàn, bảo mật và cung cấp thông tin theo trình tự, thủ tục luật định. Trường hợp từ chối hoặc hạn chế cung cấp thông tin, cơ quan có thẩm quyền cần nêu rõ căn cứ pháp luật và giải thích cho người yêu cầu.
Đồng thời, Chính phủ cần được giao quy định chi tiết thủ tục thực hiện, bảo đảm hài hòa quyền được biết nguồn gốc của con nuôi với quyền riêng tư của cha mẹ đẻ và những người có liên quan.
Đề xuất này hướng tới việc biến quyền được biết nguồn gốc từ một nguyên tắc pháp lý thành quyền có thể thực hiện trên thực tế. Đối với người con nuôi đã trưởng thành, thông tin về nguồn gốc có ý nghĩa trong việc tìm hiểu lịch sử cá nhân, hoàn thiện nhận thức về bản thân và xác định những mối liên hệ gia đình. Tuy nhiên, việc tiếp cận thông tin cũng cần được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, có quy trình rõ ràng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác.
Bên cạnh quyền được biết nguồn gốc, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị rà soát Điều 14 về điều kiện đối với người nhận con nuôi, đặc biệt là quy định liên quan đến tiền án và các hành vi vi phạm về bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em.
Theo đại biểu, điểm đ khoản 3 Điều 14 sử dụng cụm từ “đã từng bị kết án” đối với danh mục gồm nhiều nhóm tội danh nhưng chưa làm rõ phạm vi áp dụng của lệnh cấm và mối quan hệ với tình trạng xóa án tích. Điều này cần được cân nhắc để vừa phòng ngừa nguy cơ xâm hại trẻ em, vừa bảo đảm tính rõ ràng, tương xứng của quy định pháp luật.
Chẳng hạn, một người từng bị kết án về tội thuộc danh mục quy định, đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích từ nhiều năm trước. Nếu luật chỉ quy định “đã từng bị kết án” mà không làm rõ hệ quả pháp lý của việc xóa án tích, cơ quan giải quyết có thể có cách hiểu khác nhau, dẫn đến thiếu thống nhất trong áp dụng. Vì vậy, đại biểu đề nghị phân nhóm rõ các tội danh làm căn cứ cấm nhận con nuôi, xác định minh bạch hệ quả pháp lý của việc xóa án tích, đồng thời giải trình rõ căn cứ áp dụng lệnh cấm kéo dài đối với từng nhóm tội danh.
Đối với hành vi vi phạm hành chính về bạo lực gia đình và xâm hại trẻ em, đại biểu cho rằng dự thảo cũng cần có tiêu chí đánh giá cụ thể hơn. Không nên mặc nhiên coi mọi trường hợp từng bị xử phạt đều có mức độ rủi ro như nhau, nhưng cũng không thể bỏ qua thông tin xử phạt khi xem xét khả năng bảo đảm an toàn cho trẻ.
Theo đó, việc đánh giá cần căn cứ vào tính chất, mức độ, số lần và thời điểm vi phạm, đồng thời xem xét nguy cơ cụ thể đối với trẻ em. Đại biểu đề nghị bổ sung khoản 5 Điều 14 để quy định rõ trách nhiệm xem xét các thông tin liên quan khi đánh giá tư cách đạo đức của người nhận con nuôi, tránh cách áp dụng máy móc hoặc bỏ sót nguy cơ.
Một nội dung khác được đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh là sự thống nhất về thời điểm phát sinh hệ quả pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi tại các Điều 26, 27 và 29.
Theo đại biểu, khoản 1 và khoản 2 Điều 26 sử dụng thời điểm giao nhận con nuôi làm mốc phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, trong khi dự thảo xác định quan hệ nuôi con nuôi trên cơ sở quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Việc sử dụng hai mốc thời gian khác nhau có thể dẫn đến vướng mắc trong xác định quyền, nghĩa vụ của các bên.
Đại biểu đưa ra tình huống giả định: quyết định nuôi con nuôi có hiệu lực ngày 1/3, nhưng việc giao nhận trẻ phải lùi đến ngày 10/3 do trẻ đang điều trị bệnh. Trong khoảng thời gian này, nếu các quy định xác định thời điểm phát sinh hệ quả pháp lý không thống nhất, có thể nảy sinh tranh cãi về trách nhiệm chăm sóc, đại diện theo pháp luật và việc thực hiện các quyền của trẻ.
Để bảo đảm tính thống nhất, đại biểu đề nghị sửa khoản 1 và khoản 2 Điều 26, thay cụm từ “Kể từ ngày giao nhận con nuôi” bằng “Kể từ ngày quyết định nuôi con nuôi có hiệu lực pháp luật”.
Cùng quan tâm đến vấn đề này, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình, cũng đề nghị rà soát mối quan hệ giữa Điều 3 và Điều 26. Theo đại biểu, dự thảo cần xác định thống nhất thời điểm xác lập quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi và thời điểm phát sinh đầy đủ quyền, nghĩa vụ, tránh tình trạng một người đã được xác định là cha mẹ nuôi nhưng quyền, nghĩa vụ tương ứng chưa được xác định rõ trong giai đoạn trước khi giao nhận trẻ.
Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh cho rằng, cơ quan soạn thảo cần làm rõ cách xử lý trong trường hợp quyết định nuôi con nuôi đã có hiệu lực nhưng việc giao nhận chưa được thực hiện, nhất là khi dự thảo có quy định về việc hủy bỏ, thu hồi quyết định trong một số trường hợp. Việc rà soát cần bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất và khả năng áp dụng trong thực tiễn.
Đối với Điều 27, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị phân biệt rõ giữa việc thay đổi khả năng trực tiếp chăm sóc trẻ và việc chấm dứt quan hệ pháp lý cha mẹ - con. Theo đại biểu, trường hợp cha mẹ nuôi chết, mất năng lực hành vi dân sự, mắc bệnh hiểm nghèo hoặc phải chấp hành hình phạt tù không nên đương nhiên dẫn đến chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi nếu quyền lợi của trẻ vẫn có thể được bảo đảm thông qua cơ chế giám hộ hoặc chăm sóc thay thế.
Ví dụ, một người mẹ nuôi đơn thân đang chăm sóc con 10 tuổi phải chấp hành án tù 18 tháng, nhưng người thân của trẻ có đủ điều kiện và sẵn sàng hỗ trợ chăm sóc. Trong trường hợp này, việc bố trí người giám hộ hoặc cơ chế chăm sóc thay thế có thể đáp ứng nhu cầu trước mắt của trẻ mà không nhất thiết phải chấm dứt quan hệ mẹ nuôi – con nuôi.
Từ đó, đại biểu đề nghị bỏ điểm b khoản 1 Điều 27, đồng thời bổ sung khoản 6 Điều 29 để quy định việc giám hộ, chăm sóc thay thế đối với con nuôi chưa thành niên trong các trường hợp nêu trên được giải quyết theo pháp luật về trẻ em; những sự kiện này không đương nhiên làm chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung cơ chế bảo vệ trẻ em trong trường hợp người có quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi không thực hiện hoặc không thể thực hiện quyền đó, đặc biệt khi có dấu hiệu bạo hành hoặc xung đột lợi ích giữa người đại diện và trẻ. Theo đề xuất, cần bổ sung quy định về quyền yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân trong những trường hợp luật định, phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 29 cần được chỉnh lý để làm rõ việc chấm dứt nuôi con nuôi không làm mất các quyền tài sản, quyền thừa kế đã phát sinh hợp pháp trước thời điểm quyết định chấm dứt có hiệu lực. Các hệ quả đối với quan hệ thừa kế phát sinh sau đó cũng cần được quy định thống nhất với pháp luật dân sự, hạn chế tranh chấp và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
Ở góc độ nguyên tắc chung, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh cơ bản thống nhất với định hướng ưu tiên để trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc và chỉ giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài khi không thể giải quyết trong nước. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi áp dụng đối với trường hợp nhận con nuôi trong phạm vi gia đình, như cha dượng nhận con riêng của vợ hoặc mẹ kế nhận con riêng của chồng.
Theo đại biểu, cần phân biệt việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em với việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi trong chính gia đình mà trẻ đang sinh sống. Nếu áp dụng máy móc các nguyên tắc ưu tiên, những trường hợp nhận con nuôi trong phạm vi gia đình có thể gặp vướng mắc dù việc xác lập quan hệ cha mẹ – con có thể góp phần bảo đảm quyền lợi của trẻ.
Đại biểu cũng đề nghị hướng dẫn thống nhất việc xác minh hoàn cảnh, khả năng chăm sóc của gia đình gốc trước khi giải quyết cho trẻ làm con nuôi, tránh tình trạng những trường hợp có hoàn cảnh tương tự lại được đánh giá khác nhau giữa các địa phương.
Các ý kiến tại phiên thảo luận cho thấy việc sửa đổi Luật Nuôi con nuôi không chỉ dừng ở việc hoàn thiện kỹ thuật lập pháp mà còn cần hướng đến khả năng thực thi và hiệu quả bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của trẻ em.
Trong đó, quyền được biết nguồn gốc của người con nuôi đã thành niên cần được quy định bằng cơ chế tiếp cận thông tin rõ ràng, có trách nhiệm giải trình và có căn cứ pháp lý minh bạch. Đồng thời, các quy định về điều kiện nhận con nuôi, thời điểm phát sinh quan hệ pháp lý và chấm dứt việc nuôi con nuôi cần được thiết kế nhất quán, bảo đảm hài hòa quyền riêng tư, an toàn của trẻ và quyền, lợi ích hợp pháp của những người có liên quan.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh lý các nội dung đã nêu. Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm quyền được biết nguồn gốc của con nuôi có thể thực hiện trong thực tế, việc nhận con nuôi được giải quyết minh bạch và mọi quyết định liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi đều đặt quyền, lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trọng tâm.
Từ khóa: con nuôi, con nuôi đã thành niên, quyền được biết nguồn gốc, Luật Nuôi con nuôi sửa đổi, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Quốc hội khóa XVI, quyền trẻ em, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, điều kiện nhận con nuôi, bảo vệ quyền lợi trẻ em
Thể loại: Xã hội
Tác giả: văn ngân/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN