Đà Nẵng hướng tới xây dựng Khu Thương mại tự do thông minh, quản trị hiện đại

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng vừa trao các quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 3 dự án hạ tầng Khu Thương mại tự do số 2,3, 4. Cùng với khu chức năng Khu Thương mại tự do số 5 đã được khởi động đầu tư trước đó, Khu Thương mại tự do Đà Nẵng đang dần hình thành diện mạo mới

Phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam thường trú khu vực miền Trung phỏng vấn ông Vũ Quang Hùng, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các Khu công nghiệp Đà Nẵng,đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với Khu Thương mại tự do Đà Nẵngvề định hướng phát triển.

PV:Thưa ông, Khu Thương mại tự do Đà Nẵng sẽ được thiết kế như thế nào để đảm bảo tính phù hợp với đặc thù kinh tế biển và vị trí cửa ngõ của miền Trung Việt Nam?

Ông Vũ Quang Hùng: Đối với Đà Nẵng, cấu trúc lõi của Khu Thương mại tự do phải đặt trên 3 trụ cột. Một là logistics và thương mại quốc tế, gắn với cảng Liên Chiểu, cảng Tiên Sa, sân bay quốc tế Đà Nẵng và trong không gian mới còn có liên kết với Chu Lai. Hai là sản xuất, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nghiên cứu và phát triển (R&D), gắn với Khu công nghệ cao, các khu công nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thành phố. Ba là thương mại – dịch vụ tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm dịch vụ doanh nghiệp, tài chính, y tế, giáo dục, du lịch, nghỉ dưỡng, hội nghị, triển lãm, kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới.

Quyết định 1142/QĐ-TTg ngày 13/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã xác lập Khu Thương mại tự do (FTZ) Đà Nẵng với 7 vị trí, tổng diện tích ban đầu khoảng 1.881 ha. Nhưng chúng tôi cho rằng đây mới là khung khởi đầu. Vấn đề không chỉ là “khu đất bao nhiêu héc-ta”, mà là hình thành một không gian kinh tế mở, có khả năng kết nối chuỗi cung ứng, dòng vốn, dòng hàng hóa, dòng dữ liệu và dòng nhân lực chất lượng cao. FTZ Đà Nẵng phải là FTZ thế hệ mới: không chỉ làm kho bãi, không chỉ gia công, mà phải tạo giá trị gia tăng cao, có hàm lượng công nghệ, quản trị hiện đại và gắn với bản sắc đô thị biển của Đà Nẵng.

PV:Việc sáp nhập Đà Nẵng với Quảng Nam đã tạo ra một quỹ đất và không gian rộng lớn hơn nhiều so với dự kiến 1.881 ha ban đầu. Ông đánh giá sự thay đổi về quỹ không gian này sẽ làm thay đổi chiến lược quy hoạch Khu Thương mại tự do như thế nào?

Ông Vũ Quang Hùng:Việc mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập tạo ra một thay đổi rất căn bản trong tư duy quy hoạch Khu Thương mại tự do. Trước đây, khi nói đến FTZ Đà Nẵng, mọi người chủ yếu hình dung 7 vị trí với tổng diện tích khoảng 1.881 ha, phân bố trong không gian Đà Nẵng cũ, gắn với cảng Liên Chiểu, Khu công nghệ cao, các khu công nghiệp và một số khu chức năng thương mại – dịch vụ.

Nhưng trong không gian thành phố mới, chiến lược FTZ không thể chỉ dừng ở một vài khu chức năng rời rạc. Sau sáp nhập, FTZ Đà Nẵng có cơ hội chuyển từ mô hình “các vị trí chức năng” sang mô hình “hệ sinh thái không gian mở”. Nhưng mở rộng không có nghĩa là dàn trải. Thành phố sẽ phải chọn đúng điểm, đúng chức năng, đúng nhà đầu tư, đúng thời điểm; làm khu nào phải ra khu đó, tạo được dòng hàng, dòng vốn, dòng công nghệ và việc làm chất lượng cao cho thành phố.

PV:Hiện nay, rào cản về cơ chế, chính sách luôn là vấn đề khiến các nhà đầu tư cân nhắc. Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng đang kiến nghị những chính sách cụ thể nào để tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, tự do, đủ sức cạnh tranh với các đặc khu kinh tế trong khu vực ASEAN?

Ông Vũ Quang Hùng:Hạ tầng cứng là điều kiện cần, nhưng thể chế mới là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của một FTZ. Đà Nẵng có một lợi thế quan trọng là FTZ được hình thành trong bối cảnh thành phố đã có các cơ chế đặc thù tại Nghị quyết 136/2024/QH15 của Quốc hội và Quyết định 1142/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đây là nền tảng pháp lý ban đầu rất quan trọng. Tuy nhiên, để vận hành hiệu quả, chúng tôi cho rằng cần tiếp tục cụ thể hóa thành các nhóm chính sách có tính thực thi cao.

Trước hết là cơ chế “một cửa, tại chỗ, số hóa toàn trình”. Nhà đầu tư vào FTZ cần biết rõ hồ sơ nộp ở đâu, xử lý trong bao lâu, cơ quan nào chịu trách nhiệm, trạng thái hồ sơ đang ở bước nào. Thứ hai là cơ chế hải quan, thuế, kiểm tra chuyên ngành, logistics theo hướng nhanh hơn, minh bạch hơn, quản lý rủi ro tốt hơn, giảm tối đa tiền kiểm không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát. Thứ ba là chính sách về đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy, lao động, cư trú chuyên gia, chuyển đổi số, thương mại điện tử xuyên biên giới và dịch vụ mới trong FTZ cần được hướng dẫn đồng bộ, tránh tình trạng mỗi thủ tục đi một hướng.

Ban Quản lý cũng đang kiến nghị cách tiếp cận sandbox thực chất hơn. Sandbox không chỉ là ưu đãi, mà là cho phép thử nghiệm có kiểm soát những mô hình mới: hải quan số, kho ngoại quan thông minh, trung tâm dữ liệu logistics, trung tâm giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới, dịch vụ tài chính hỗ trợ thương mại, mô hình quản trị khu theo dữ liệu thời gian thực. Tất cả phải dựa trên nguyên tắc minh bạch, có tiêu chí đầu vào, có cơ chế giám sát, có đánh giá định kỳ và có khả năng nhân rộng nếu thành công.

PV: Thưa ông! Thách thức lớn nhất là làm sao để FTZ không trở thành nơi gia công giá trị thấp. Ông có thể chia sẻ về bộ tiêu chí “lọc” nhà đầu tư mà Ban Quản lý hướng tới để đảm bảo FTZ Đà Nẵng thu hút được các dòng vốn công nghệ cao và các ngành kinh tế có giá trị gia tăng lớn hay không?

Ông Vũ Quang Hùng:Đây là vấn đề rất quan trọng. FTZ chỉ thực sự thành công khi thu hút được nhà đầu tư phù hợp, chứ không phải thu hút bằng mọi giá. Nếu không có tiêu chí sàng lọc tốt, FTZ có thể rơi vào 3 rủi ro: sử dụng đất kém hiệu quả, thu hút các dự án gia công giá trị thấp, hoặc biến tướng thành các dự án bất động sản thuần túy. Đó là điều Đà Nẵng phải tránh ngay từ đầu.

Quan điểm của Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng là lựa chọn nhà đầu tư theo cả năng lực tài chính, năng lực triển khai, năng lực vận hành và chất lượng hệ sinh thái mà họ mang lại.

Chúng tôi cũng định hướng ưu tiên các nhóm ngành phù hợp với lợi thế Đà Nẵng: logistics hiện đại, thương mại điện tử xuyên biên giới, công nghệ cao, bán dẫn, vi mạch, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp hỗ trợ, thiết bị y tế, dược phẩm, dịch vụ tài chính – thương mại, trung tâm dữ liệu, dịch vụ doanh nghiệp, giáo dục – đào tạo, y tế chất lượng cao, du lịch – nghỉ dưỡng – hội nghị – triển lãm tiêu chuẩn quốc tế.

Hiện nay, thành phố đã có những bước đi rất cụ thể. FTZ vị trí số 2 quy mô 77 ha đã có nhà đầu tư; FTZ vị trí số 3 quy mô 500 ha và FTZ vị trí số 4 giai đoạn 1 khoảng 335 ha cũng đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Các vị trí còn lại như 1, 6, 7 tiếp tục được kêu gọi theo quy định. Điều này cho thấy sự quan tâm của nhà đầu tư là rất lớn, nhưng càng nhiều nhà đầu tư quan tâm thì càng phải sàng lọc kỹ.

Đà Nẵng không đặt mục tiêu lấp đầy FTZ bằng mọi giá. Mục tiêu là hình thành một hệ sinh thái nhà đầu tư có năng lực, có công nghệ, có cam kết dài hạn và có khả năng cùng thành phố tạo ra giá trị mới.

PV:Định hướng phát triển Khu Thương mại tự do thông minh (Smart FTZ) dựa trên nền tảng AI, Big Data và hải quan số đang là điểm nhấn then chốt. Ông có thể phác thảo lộ trình tích hợp hạ tầng số này vào thực tế vận hành?

Ông Vũ Quang Hùng:Chúng tôi hình dung Smart FTZ Đà Nẵng theo 3 lớp. Lớp thứ nhất là hạ tầng số nền tảng: mạng viễn thông tốc độ cao, trung tâm dữ liệu, IoT, camera thông minh, hệ thống định danh, bản đồ số, dữ liệu đất đai – quy hoạch – hạ tầng – doanh nghiệp. Lớp thứ hai là nền tảng quản trị số: một cổng vận hành tích hợp cho nhà đầu tư, doanh nghiệp và cơ quan quản lý; trong đó các thủ tục đầu tư, xây dựng, môi trường, lao động, hải quan, logistics, kho bãi, cấp phép, báo cáo định kỳ được xử lý và theo dõi trên môi trường số. Lớp thứ ba là dữ liệu thông minh và phân tích dự báo: sử dụng AI, Big Data, quản lý rủi ro để dự báo dòng hàng, tối ưu luồng vận chuyển, cảnh báo ùn tắc, giám sát môi trường, an ninh, phòng cháy chữa cháy, năng lượng và hiệu quả sử dụng đất.

Lộ trình triển khai cần bắt đầu ngay từ khâu quy hoạch và thiết kế hạ tầng. Chúng tôi đang đề nghị các nhà đầu tư hạ tầng FTZ phải thiết kế khu theo hướng hiện đại, đồng bộ dữ liệu, số hóa ngay từ đầu, tiến tới mỗi FTZ đều có “bản sao số” để quản lý quy hoạch, xây dựng, vận hành, an toàn, môi trường, giao thông, năng lượng và dịch vụ doanh nghiệp.

Về hải quan số, điều cốt lõi là phải chuyển từ quản lý hồ sơ sang quản lý dòng dữ liệu và rủi ro. Hàng hóa vào – ra FTZ cần được theo dõi bằng dữ liệu điện tử, mã định danh, chứng từ số, kết nối với hệ thống hải quan, cảng, kho, doanh nghiệp logistics và các cơ quan kiểm tra chuyên ngành.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Từ khóa: Đà Nẵng, Khu thương mại tự do, Ban Quản lý, Khu công nghệ cao, Khu công nghiệp, Trung tâm tài chính quốc tế

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: thanh hà/vov-miền trung

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập