Chuyên gia: Cần tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Bộ Tài chính đang lấy ý kiến sửa đổi Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa 2017 nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp. Chuyên gia kinh tế cho rằng, chính sách hỗ trợ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi dễ tiếp cận, gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thực thi minh bạch.

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến sửa đổi Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa 2017, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp. Ý kiến của chuyên gia chung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV) đã có cuộc trao đổi với TS Tạ Thu Phương, Giảng viên khoa Quản trị Kinh doanh, Đại học Kinh tế Quốc dân.

Chính sách hỗ trợ còn xa nhu cầu thực tế của doanh nghiệp

PV: Thưa bà, nhiều ý kiến cho rằng, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa (DNNVV) từ khi ra đời chưa hỗ trợ hiệu quả cho DNNVV, thậm chí còn tạo ra nhiều điểm nghẽn. Vậy đâu là “điểm nghẽn” và đâu là “chưa hỗ trợ được” của Luật?

TS Tạ Thu Phương: Cá nhân tôi cho rằng không nên phủ nhận hoàn toàn vai trò của Luật Hỗ trợ DNNVV 2017 vì Luật là khuôn khổ pháp lý đầu tiên cho việc hỗ trợ khu vực DNNVV. Hạn chế lớn nhất của Luật là mới chỉ dừng ở tư duy quy định chính sách hỗ trợ, chứ chưa chuyển thành cơ chế hỗ trợ thực chất, dễ tiếp cận và đo lường được kết quả.

Điểm nghẽn nằm ở chỗ chính sách còn phân tán, thủ tục tiếp cận hỗ trợ phức tạp, nguồn lực hỗ trợ mỏng, trách nhiệm thực thi chưa rõ và thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả đầu ra. DNNVV thường yếu về hồ sơ tài chính, kế toán, tài sản bảo đảm, năng lực quản trị và thông tin thị trường, trong khi các chính sách hỗ trợ lại yêu cầu điều kiện, thủ tục và năng lực tiếp cận mà nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được. Vì vậy, khoảng cách giữa chính sách đề xuất và lợi ích thực tế mà doanh nghiệp nhận được còn khá lớn.

Chúng ta nói Luật “chưa hỗ trợ được” là vì Luật chưa giải quyết tốt các nhu cầu “sống còn” của DNNVV, đặc biệt là vốn, mặt bằng, chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tham gia chuỗi giá trị. Hỗ trợ tín dụng chưa làm thay đổi căn bản tình trạng doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp; hỗ trợ tư vấn và đào tạo còn dàn trải; hỗ trợ tham gia chuỗi cung ứng chưa tạo được liên kết thực chất với doanh nghiệp lớn và khu vực FDI...Vì vậy, khi sửa Luật, trọng tâm không chỉ là bổ sung thêm chính sách, mà cần phải chuyển sang cách tiếp cận mới đó là: Hỗ trợ có trọng tâm, dựa trên dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục, gắn với kết quả đầu ra và tập trung vào nhu cầu mà doanh nghiệp thực sự cần như vốn, công nghệ, quản trị, thị trường và năng lực tham gia chuỗi giá trị.

Mở rộng tài sản bảo đảm là bước mở đường cho DN tiếp cận vốn

PV: Bộ Tài chính đang đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Hỗ trợ DNNVV với cơ chế khuyến khích tổ chức tín dụng cho DNNVV vay vốn trên cơ sở đa dạng hóa hình thức bảo đảm tiền vay như: bảo đảm bằng bất động sản, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản vô hình, tài sản số, tài sản ảo và tài sản hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Cơ chế này có giúp DNNVV tiếp cận được nguồn vốn dễ dàng hơn không, thưa bà?

TS Tạ Thu Phương: Đề xuất này là đúng hướng và có tính đột phá - là bước chuyển đổi tư duy hỗ trợ tín dụng cho DNNVV, từ chỗ phụ thuộc “nặng” vào tài sản thế chấp truyền thống sang cách tiếp cận rộng hơn. Nhiều DNNVV hiện nay không có nhiều bất động sản để thế chấp, nhưng lại có quyền tài sản, hợp đồng, dòng tiền tương lai, thương hiệu, phần mềm, dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ hoặc tài sản vô hình có giá trị kinh tế. Nếu các loại tài sản này được pháp luật thừa nhận và có cơ chế định giá, đăng ký, quản lý và xử lý rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng cơ chế này không đồng nghĩa với việc DNNVV sẽ được vay vốn dễ dàng ngay lập tức.

Tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số và tài sản ảo là các tài sản khó định giá, biến động mạnh, phụ thuộc nhiều vào khung pháp lý liên quan. Ngân hàng chỉ có thể mạnh dạn cho vay khi họ định giá được tài sản, kiểm soát được rủi ro pháp lý và có khả năng xử lý tài sản bảo đảm nếu khoản vay phát sinh nợ xấu. Đề xuất của Bộ Tài chính là cần thiết, nhưng muốn đi vào thực tiễn thì phải đi kèm với hệ thống hướng dẫn rất cụ thể như: tiêu chuẩn về định giá tài sản vô hình, tài sản số, cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ sở dữ liệu về quyền sở hữu, tổ chức thẩm định độc lập, quy định về tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản và cơ chế xử lý tài sản khi có rủi ro. Nếu thiếu các điều kiện này, ngân hàng vẫn sẽ thận trọng và doanh nghiệp vẫn khó vay vốn như trước. Đề xuất này chỉ nên được xem là bước mở đường ban đầu, chứ không phải là một giải pháp có thể giải quyết được ngay toàn bộ điểm nghẽn vay tín dụng của DNNVV.

PV: Theo dự thảo, DNNVV kinh doanh bền vững được ưu tiên tiếp cận tín dụng, bảo lãnh tín dụng và các nguồn vốn hợp pháp khác. Hỗ trợ lãi suất khi vay vốn để thực hiện dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn ... Theo bà, điều này sẽ tạo ra những tác động như thế nào?

TS Tạ Thu Phương: Cơ chế này là bước đi rất tích cực, vì nó chuyển chính sách hỗ trợ DNNVV từ dàn trải sang hỗ trợ có định hướng, đặc biệt là khuyến khích doanh nghiệp kinh doanh bền vững và xanh hơn. Cơ chế này có thể tạo ra ba tác động lớn, thứ nhất, giúp giảm chi phí vốn cho DNNVV khi đầu tư vào công nghệ xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng, xử lý chất thải, tái chế, giảm phát thải hoặc đổi mới mô hình sản xuất. Các dự án xanh và kinh tế tuần hoàn giúp DNNVV đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp lớn, nhà đầu tư nước ngoài và thị trường xuất khẩu. Thứ hai, nó khuyến khích ngân hàng, quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ Phát triển DNNVV tham gia mạnh hơn vào tài chính xanh. Khi chi phí vốn được giảm và cơ hội tiếp cận tín dụng được mở rộng, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực đầu tư dài hạn thay vì chỉ tập trung vào tồn tại ngắn hạn. Thứ ba, nó buộc doanh nghiệp phải nâng cấp quản trị, minh bạch hóa hồ sơ tài chính và chứng minh hiệu quả môi trường của dự án.

Tuy nhiên, chính sách này chỉ phát huy hiệu quả nếu tiêu chí kinh doanh bền vững, dự án xanh và kinh tế tuần hoàn được quy định rõ ràng, thủ tục tiếp cận đơn giản và có hỗ trợ kỹ thuật đi kèm. Nếu chỉ có ưu đãi lãi suất mà không có hướng dẫn lập dự án, tiêu chí đánh giá và cơ chế thẩm định minh bạch thì nhiều DNNVV vẫn khó tiếp cận. Đây là một chính sách rất đáng kỳ vọng, nhưng phải được thiết kế theo hướng dễ hiểu, dễ tiếp cận và đo lường được kết quả.

Hộ kinh doanh vẫn còn nhiều rào cản khi chuyển đổi thành doanh nghiệp

PV: Theo Dự thảo, DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh sẽ được kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của hộ kinh doanh. Miễn lệ phí, phí đăng ký doanh nghiệp; áp dụng cơ chế kê khai, nộp thuế, chế độ kế toán, báo cáo đơn giản; được cung cấp miễn phí hoặc hỗ trợ sử dụng phần mềm kế toán, dịch vụ kế toán trong thời gian đầu... Với quy định này thì đã đủ động lực để hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp chưa? Nếu chưa thì tại sao, thưa bà?

TS Tạ Thu Phương: Quy định này là cần thiết và đúng hướng, nhất là với hộ kinh doanh còn e ngại thủ tục. Tuy nhiên, chưa đủ để tạo động lực mạnh mẽ cho hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Lý do là chi phí mà hộ kinh doanh lo ngại nhất không phải chỉ là chi phí đăng ký ban đầu, mà là chi phí tuân thủ lâu dài sau khi trở thành doanh nghiệp. Khi chuyển đổi, họ phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, kê khai thuế, bảo hiểm xã hội, hợp đồng lao động, báo cáo tài chính và nhiều nghĩa vụ pháp lý khác. Đây mới là những chi phí khiến nhiều hộ kinh doanh do dự.

Nói cách khác, chính sách mới chủ yếu giúp họ “bước qua cánh cửa chuyển đổi”, nhưng chưa bảo đảm rằng sau khi bước vào mô hình doanh nghiệp, hộ kinh doanh sẽ có đủ năng lực để vận hành ổn định. Nếu không có hỗ trợ kế toán, thuế, pháp lý, vốn, chuyển đổi số và tư vấn quản trị trong những năm đầu, nhiều hộ kinh doanh vẫn sẽ lo ngại rằng chuyển đổi đồng nghĩa với việc bị quản lý nhiều hơn, chi phí cao hơn và rủi ro tuân thủ lớn hơn.

Vì vậy, để tạo động lực thực sự, cần thiết kế một gói hỗ trợ sau chuyển đổi trong khoảng 2–3 năm đầu. Gói này nên bao gồm tư vấn thuế, kế toán, hóa đơn điện tử, pháp lý lao động, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ phần mềm quản trị, tiếp cận tín dụng và cơ chế một cửa để giải đáp vướng mắc. Khi hộ kinh doanh thấy rằng chuyển đổi giúp họ vay vốn dễ hơn, ký được hợp đồng nhiều hơn, tham gia chuỗi cung ứng tốt hơn và mở rộng thị trường thuận lợi hơn, lúc đó động lực chuyển đổi mới đủ mạnh.

Hỗ trợ doanh nghiệp phải gắn với thị trường và cơ chế thực thi hiệu quả

PV: Ở góc độ chuyên gia kinh tế, bà đề xuất các vấn đề nào cần được sửa đổi, bổ sung ngay vào Dự thảo Luật để hỗ trợ tốt nhất cho DNNVV hiện nay?

TS Tạ Thu Phương: Dự thảo Luật cần bổ sung ngay một số nhóm chính sách trọng tâm: Thứ nhất, sửa đổi mạnh mẽ cơ chế hỗ trợ tín dụng theo hướng thực chất, có cơ chế chấm điểm tín dụng dựa trên dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, dòng tiền qua tài khoản, hợp đồng, đơn hàng và lịch sử thanh toán. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV phải được thiết kế lại theo hướng linh hoạt, có trách nhiệm chia sẻ rủi ro với ngân hàng. Nếu doanh nghiệp có dòng tiền tốt, đơn hàng tốt, dữ liệu kinh doanh minh bạch thì họ phải có cơ hội được vay vốn ngay cả khi thiếu bất động sản để thế chấp.

Thứ hai, bổ sung gói hỗ trợ kế toán, thuế và quản trị tài chính cho DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh. Nhà nước có thể hỗ trợ một phần chi phí để DNNVV sử dụng phần mềm kế toán, phần mềm bán hàng, quản trị kho, hóa đơn điện tử, chữ ký số, thương mại điện tử, quản trị khách hàng và an ninh dữ liệu cơ bản. Cách làm này thiết thực hơn so với việc chỉ tổ chức tập huấn chung chung, vì doanh nghiệp cần được hỗ trợ trực tiếp vào công cụ họ sử dụng hằng ngày, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc vay vốn, gọi vốn, ký kết các hợp đồng và giảm rủi ro pháp lý.

Thứ ba, Nhà nước có cơ chế hỗ trợ DNNVV kết nối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI, hệ thống bán lẻ, sàn thương mại điện tử; chương trình mua sắm công phù hợp và các chương trình xúc tiến xuất khẩu. Không nên chỉ hỗ trợ đầu vào như vốn hay tư vấn, mà phải hỗ trợ cả đầu ra - tức là giúp doanh nghiệp có thị trường để “lớn lên”. Cần bổ sung chính sách hỗ trợ nâng cấp tiêu chuẩn về chất lượng, môi trường, lao động, an toàn sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và ESG... để DNNVV có thể tham gia chuỗi cung ứng hiện đại.

Thứ tư, bổ sung chính sách riêng cho hộ kinh doanh trước khi chuyển đổi lên doanh nghiệp, không nên chỉ hỗ trợ hộ kinh doanh sau khi họ đã chuyển đổi. Cần hỗ trợ họ từ trước khi chuyển đổi lên doanh nghiệp, thông qua hệ thống kế toán đơn giản, hóa đơn điện tử, thanh toán số, phần mềm bán hàng, tín dụng, tư vấn pháp lý và quản trị cơ bản...

Thứ năm, cần có cơ chế vùng đệm tuân thủ cho doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp mới chuyển đổi. Trong giai đoạn đầu, nếu doanh nghiệp có sai sót lần đầu về thuế, kế toán, bảo hiểm xã hội hoặc thủ tục hành chính nhưng không có gian lận, không gây hậu quả nghiêm trọng, thì nên ưu tiên hướng dẫn, cảnh báo và cho khắc phục trước khi xử phạt.

PV: Vậy khi Luật Hỗ trợ DNNVV (sửa đổi) được ban hành, cần cơ chế thực thi như thế nào để mang lại hiệu quả nhất?

TS Tạ Thu Phương: Trước hết, Luật phải trả lời được 4 câu hỏi: Ai chịu trách nhiệm thực hiện, nguồn hỗ trợ từ đâu, doanh nghiệp tiếp cận bằng cách nào và kết quả được đo lường ra sao. Nếu bốn điểm này không rõ, thì chính sách dù rất tốt vẫn có thể chỉ “nằm trên giấy”.

Cần thiết lập một đầu mối hỗ trợ DNNVV ở Trung ương và địa phương theo cơ chế một cửa. Luật nên quy định rõ mô hình trung tâm hoặc nền tảng số hỗ trợ DNNVV, nơi doanh nghiệp có thể biết mình thuộc nhóm nào, được hỗ trợ gì, hồ sơ ra sao và theo dõi tiến độ như thế nào. Bên cạnh đó, mỗi chính sách hỗ trợ phải đi kèm nguồn lực cụ thể. Chúng ta hỗ trợ tín dụng, lãi suất, chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, tư vấn pháp lý hay hỗ trợ thị trường mà không có ngân sách, không có quỹ và quy trình đơn giản thì doanh nghiệp sẽ không tiếp cận được. Vì vậy, Luật cần quy định rõ vai trò của ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ bảo lãnh tín dụng, tổ chức tín dụng và nguồn lực xã hội hóa.

Ngoài ra, cần có cơ chế giám sát độc lập, công khai kết quả thực hiện và trách nhiệm giải trình của cơ quan thực thi. Địa phương nào triển khai tốt cần được nhân rộng; địa phương nào để chính sách tắc nghẽn thì phải báo cáo nguyên nhân và trách nhiệm. Muốn Luật đi vào cuộc sống thì phải biến chính sách hỗ trợ thành hệ thống dịch vụ công dành cho DNNVV, làm sao để dễ tìm, dễ hiểu, dễ nộp hồ sơ, dễ theo dõi và có thể đo lường kết quả. Khi doanh nghiệp nhỏ nhất cũng có thể tiếp cận được chính sách, lúc đó Luật mới thực sự tạo ra giá trị và có hiệu quả.

PV: Xin cảm ơn bà!

Từ khóa: doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa 2017,chính sách, tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp, vốn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa,tiếp cận vốn tín dụng, chuyển đổi hộ kinh doanh

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: lê thanh/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập