Cần tạo thêm những “đường băng” có tính đột phá cho nhà khoa học trẻ
Cập nhật: 1 giờ trước
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc làm việc với Lãnh đạo Chính phủ Nga
Xây dựng năng lực tự chủ, sáng tạo và khả năng thích ứng của quốc gia
VOV.VN - Nhà khoa học trẻ. Họ cần được tin tưởng, giao nhiệm vụ, cần có quỹ hỗ trợ nghiên cứu, có cơ hội chủ trì các nghiên cứu độc lập, quyền tiếp cận dữ liệu và phòng thí nghiệm, cơ chế được chấp nhận thất bại mà không bị triệt tiêu cơ hội nghề nghiệp.
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã nhấn mạnh như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam về vấn đề nhân lực - một trong những yếu tố được chú trọng trong kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về chủ trương phát triển khoa học cơ bản.
PV: Tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu rõ: Phải coi con người là trung tâm của phát triển khoa học cơ bản. Muốn có nền khoa học mạnh, trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học mạnh; có hệ sinh thái phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài khoa học. Theo ông, đâu là điểm nghẽn trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài khoa học hiện nay?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là chúng ta chưa hình thành đầy đủ một hệ sinh thái phát triển nhân tài khoa học theo đúng nghĩa hiện đại. Nhân tài cần một chuỗi phát triển liên tục: phát hiện sớm, đào tạo nghiêm túc, được dẫn dắt bởi các nhà khoa học lớn, được thử thách trong môi trường học thuật cạnh tranh lành mạnh, được tạo cơ chế làm việc, trao quyền nghiên cứu độc lập, sáng tạo, được đánh giá công bằng và được bảo vệ trước rủi ro.
Thực tế cho thấy, hiện nay, điểm nghẽn xuất hiện ở mọi khâu: phát hiện, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ nhân tài. Phát hiện nhân tài đã khó, nhưng phát hiện rồi mà chưa có cơ chế hỗ trợ, bồi dưỡng, tạo điều kiện phát triển và sử dụng đúng thì nhân tài rất dễ bị lãng phí.
Đào tạo nhân lực khoa học tuy đã được quan tâm hơn, nhưng vẫn chưa thật sát với nhu cầu phát triển nhân tài khi còn nặng chương trình, bằng cấp, truyền thụ kiến thức, trong khi nhân tài khoa học cần được rèn luyện năng lực đặt vấn đề, phản biện, thiết kế nghiên cứu, làm việc liên ngành, công bố quốc tế và chuyển hóa tri thức thành giải pháp cho những bài toán lớn của đất nước.
Cơ chế sử dụng người tài còn nặng tính hành chính. Nhân tài khoa học cần nhất là cơ chế, sự tin cậy, sự ủng hộ, điều kiện làm việc và không gian sáng tạo. Nếu vẫn áp dụng máy móc các quy định chung về công tác cán bộ, viên chức, quy trình, thủ tục, định mức, thang bảng lương và cách đánh giá hành chính như hiện nay, thì rất khó tạo điều kiện tốt nhất cho nhân tài.
Về đãi ngộ, chúng ta thấy một nhà khoa học trẻ nếu không có thu nhập tương xứng, không thấy tương lai nghề nghiệp rõ ràng, không có cơ hội chủ trì nhiệm vụ, không được bảo vệ khi theo đuổi hướng nghiên cứu mới, thì rất khó toàn tâm toàn ý với khoa học. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hạn chế chảy máu chất xám và giữ chân nhân tài cho các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là trong khu vực công.
PV: Trong bối cảnh đội ngũ chuyên gia đầu ngành ở nhiều lĩnh vực còn mỏng, thiếu lực lượng kế cận, nhiều nhà khoa học trẻ chưa có môi trường để phát triển lâu dài, tình trạng chảy máu chất xám vẫn còn diễn ra. Vậy làm thế nào để đào tạo và thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao, thưa ông?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Muốn giữ chân và thu hút người giỏi, không chỉ tăng thu nhập, mà quan trọng hơn là phải tạo ra môi trường để người giỏi được làm khoa học đúng nghĩa. Theo tôi, cần tập trung vào một số hướng trọng tâm chính sách sau:
Thứ nhất, phải xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc và trường phái khoa học trong những lĩnh vực then chốt. Cần ưu tiên các lĩnh vực có khả năng đóng góp trực tiếp cho phát triển như: trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, y sinh, vật liệu mới, năng lượng mới, nông nghiệp công nghệ cao, an ninh nguồn nước, đô thị thông minh…
Thứ hai, cần quan tâm đúng mức đến khoa học xã hội và nhân văn như một nền tảng quan trọng của phát triển. Khoa học xã hội và nhân văn giúp nhận diện những vấn đề như biến đổi dân số, già hóa dân số, di cư, lao động việc làm, biến đổi gia đình, bất bình đẳng, giáo dục, thanh niên, văn hóa số, đạo đức công nghệ, niềm tin xã hội, quản trị địa phương, chính sách công và sức mạnh mềm quốc gia. Đây là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển, nhưng hiệu quả nghiên cứu thường có độ trễ, không thể hiện ngay bằng sản phẩm thương mại.
Thứ ba, cần tạo thêm những “đường băng” có tính đột phá cho nhà khoa học trẻ. Nhà khoa học trẻ cần được tin tưởng, giao nhiệm vụ, cần có quỹ hỗ trợ nghiên cứu, có cơ hội chủ trì các nghiên cứu độc lập, quyền tiếp cận dữ liệu và phòng thí nghiệm, cơ hội trao đổi quốc tế, cơ chế được chấp nhận thất bại mà không bị triệt tiêu cơ hội nghề nghiệp.
PV: Một trong những việc cần làm, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, là phải xây dựng Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản, phát triển hệ sinh thái nhân tài khoa học. Để làm được những điều đó, theo ông, chúng ta cần phải làm gì và có cơ chế chính sách ra sao?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Theo tôi, trước hết phải tiếp cận theo tư duy hiện đại hiện nay, tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái cơ chế, chính sách khoa học, công nghệ gắn với nhân tài.
Trước hết, cơ chế, chính sách cần tạo môi trường học thuật tự do nhưng có trách nhiệm. Tự do học thuật không có nghĩa là tùy tiện, mà là nhà khoa học được quyền đặt câu hỏi, được quyền tranh luận, được quyền phản biện, được quyền theo đuổi giả thuyết mới, được quyền công bố kết quả trung thực trên cơ sở phương pháp khoa học. Nhưng đi cùng với tự do đó phải là trách nhiệm giải trình, liêm chính khoa học, chống bệnh thành tích, chống công bố hình thức. Một nền khoa học mạnh phải là nền khoa học trung thực và dựa trên hiệu quả.
Thứ hai, cần chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo. Hiện nay, nhiều nhà khoa học vẫn mất quá nhiều thời gian cho hồ sơ, chứng từ, thủ tục, dự toán, quyết toán, trong khi điều cần quản lý chặt nhất phải là chất lượng khoa học, tính trung thực, giá trị tri thức và tác động của nghiên cứu. Vì vậy, cần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý theo thủ tục sang đánh giá theo kết quả và tác động, từ kiểm soát chi li đầu vào sang kiểm soát chất lượng đầu ra, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đồng thời phải đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khoa học để giảm thủ tục, giảm thời gian hành chính, tạo thêm không gian cho nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu và sáng tạo.
Thứ ba, phải phân loại rõ các loại hình nghiên cứu để có cơ chế giao, đánh giá phù hợp. Nghiên cứu cơ bản định hướng tri thức nền có thể được đánh giá bằng đóng góp lý thuyết, công bố chất lượng cao. Khoa học xã hội và nhân văn cần được đánh giá bằng luận cứ chính sách, dữ liệu xã hội, năng lực dự báo, mô hình quản trị, tác động đến thể chế, văn hóa, con người, niềm tin xã hội và đồng thuận quốc gia.
Thứ tư, cần giao nhiệm vụ lớn cho nhân tài khoa học. Người tài chỉ thực sự phát huy khi được đặt trước những bài toán lớn của quốc gia. Nhà nước cần đặt hàng những nhiệm vụ đủ lớn, đủ dài hạn, đủ thách thức, đồng thời trao quyền tự chủ cho các nhóm nghiên cứu đủ năng lực.
Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản cần trở thành một thiết kế chính sách đủ lớn, đủ dài hạn và đủ hấp dẫn để hình thành đội ngũ nhà khoa học mạnh cho đất nước. Khi người tài được phát hiện đúng, đào tạo đúng, dùng đúng, đãi ngộ đúng và bảo vệ đúng, khoa học Việt Nam mới có thể tạo ra bước chuyển căn bản.
PV: Theo ông, cần có những đột phá nào về cơ chế, nhất là cơ chế tài chính và bảo vệ nhân tài khoa học, để tạo điều kiện cho các nhà khoa học yên tâm theo đuổi các nghiên cứu dài hạn?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Tài chính cho khoa học, công nghệ, nhất là tài chính có sử dụng ngân sách nhà nước, lâu nay vẫn là một điểm nghẽn lớn. Đã đến lúc cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế tài chính có tính đột phá hơn, dựa trên kết quả, sản phẩm và tác động khoa học. Cần áp dụng mạnh mẽ cơ chế khoán chi, hậu kiểm linh hoạt, giảm tối đa thời gian nhà khoa học phải dành cho chứng từ, thủ tục, dự toán, quyết toán hay các quy trình mua sắm nhỏ lẻ. Điều cần kiểm soát chặt phải là mục tiêu nghiên cứu, chất lượng sản phẩm, tính trung thực, hiệu quả sử dụng nguồn lực và trách nhiệm giải trình, chứ không phải kiểm soát theo cách hành chính làm mất động lực sáng tạo.
Bên cạnh đó, cần xây dựng Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia theo nguyên tắc cạnh tranh, minh bạch và độc lập về học thuật; đồng thời có cơ chế tài chính riêng cho khoa học xã hội và nhân văn. Sản phẩm của khoa học xã hội và nhân văn không phải lúc nào cũng có thể thương mại hóa, không phải lúc nào cũng tạo ra doanh thu trực tiếp, nhưng lại có tác động rất lớn đến chất lượng thể chế, chất lượng chính sách, năng lực quản trị và sự ổn định phát triển của đất nước. Vì vậy, không thể áp dụng máy móc logic thương mại hóa hay các tiêu chí đánh giá ngắn hạn đối với lĩnh vực này.
Một điểm rất quan trọng nữa là phân bổ tài chính cho khoa học phải chấp nhận rủi ro khoa học. Không phải mọi nghiên cứu đều tạo ra kết quả như dự kiến. Có những thất bại trong khoa học vẫn có giá trị, bởi nó giúp loại bỏ giả thuyết sai, mở ra hướng nghiên cứu mới hoặc tạo thêm dữ liệu cho cộng đồng học thuật. Vấn đề là phải phân biệt rõ rủi ro khoa học trung thực với sai phạm, lãng phí hay thiếu trách nhiệm trong quản lý và sử dụng nguồn lực.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Từ khóa: nhà khoa học, quỹ hỗ trợ nghiên cứu, phòng thí nghiệm, cơ chế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương, phát triển khoa học cơ bản, chuyển đổi số, khoa học cơ bản, nhân lực khoa học, đào tạo nhân tài, đãi ngộ nhân tài
Thể loại: Nội chính
Tác giả: ngọc vũ/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN