Biến phụ phẩm thành "vàng xanh": Thị trường nhiên liệu sinh học Việt cần những gì?
Cập nhật: 1 giờ trước
Phát triển nhiên liệu sinh học, Việt Nam nên xây dựng một hệ thống đồng bộ
Biến phụ phẩm thành "vàng xanh": Thị trường nhiên liệu sinh học Việt cần những gì?
VOV.VN - Ths Lưu Ánh Nguyệt cho rằng, cơ chế đầu tư cho nhiên liệu sinh học cần được thiết kế theo logic chuỗi giá trị, thay vì chỉ hỗ trợ riêng lẻ cho nhà máy sản xuất. Bên cạnh đó, nhiên liệu sinh học là lĩnh vực cần cơ chế đầu tư riêng, vì rủi ro của nó khác với các dạng năng lượng tái tạo khác.
Sáng 17/6, Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp với Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) tổ chức Diễn đàn Phát triển nhiên liệu sinh học 2026: Từ chủ trương của Đảng đến hành động quốc gia”.
Tham luận tại diễn đàn, ThS. Lưu Ánh Nguyệt, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi xanh, bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính, nhiên liệu sinh học đang trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển năng lượng bền vững của nhiều quốc gia.
Khác với nhiên liệu hóa thạch truyền thống, nhiên liệu sinh học được sản xuất từ sinh khối, phụ phẩm nông nghiệp, chất thải hữu cơ, dầu thực vật, mỡ động vật hoặc các nguồn nguyên liệu tái tạo khác. Nếu được phát triển theo tiêu chuẩn bền vững, ngành nhiên liệu sinh học có thể đồng thời đóng góp vào giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao giá trị nông nghiệp và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu.
Dẫn số liệu từ IEA, Ths Lưu Ánh Nguyệt cho hay, nhiên liệu sinh học hiện vẫn là một cấu phần quan trọng trong chuyển đổi năng lượng giao thông vì có thể sử dụng với hạ tầng hiện có, có thể sản xuất từ chất thải và phụ phẩm, đồng thời tạo cơ hội kinh tế và việc làm cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên, tăng trưởng nhiên liệu sinh học toàn cầu hiện vẫn thấp hơn mức cần thiết để đạt kịch bản phát thải ròng bằng 0; sản xuất nhiên liệu sinh học bền vững cần tăng gấp ba vào năm 2030 để hỗ trợ giảm phát thải trong các lĩnh vực khó giảm phát thải như vận tải đường bộ hạng nặng, hàng không và hàng hải.
Theo bà Nguyệt, điểm nghẽn lớn nhất của ngành nhiên liệu sinh học nằm ở đặc thù đầu tư vô cùng phức tạp.Các dự án thường cần vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài, phụ thuộc mạnh vào nguồn nguyên liệu đầu vào, công nghệ chế biến, tiêu chuẩn môi trường, giá nhiên liệu hóa thạch và chính sách bắt buộc pha trộn của Nhà nước. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào cơ chế thị trường thuần túy, khu vực tư nhân khó có động lực đầu tư ở quy mô đủ lớn, đặc biệt đối với các loại nhiên liệu sinh học thế hệ mới như nhiên liệu hàng không bền vững, diesel sinh học tiên tiến hoặc nhiên liệu sinh học từ chất thải.
Trong bối cảnh đó, tài chính xanh cần được nhìn nhận không chỉ là nguồn vốn bổ sung, mà còn là cơ chế phân bổ lại rủi ro, tạo tín hiệu thị trường dài hạn và hình thành hệ sinh thái đầu tư cho ngành nhiên liệu sinh học. Tài chính xanh phát huy vai trò đối với nhiên liệu sinh học thông qua việc giảm rào cản vốn cho sản xuất, tiêu dùng và đổi mới công nghệ; đồng thời tạo điều kiện để nhiên liệu sinh học trở thành một lựa chọn khả thi trong quá trình thay thế nhiên liệu hóa thạch.
“Có thể thấy cơ chế đầu tư cho nhiên liệu sinh học cần được thiết kế theo logic chuỗi giá trị, thay vì chỉ hỗ trợ riêng lẻ cho nhà máy sản xuất. Bên cạnh đó, nhiên liệu sinh học là lĩnh vực cần cơ chế đầu tư riêng, vì rủi ro của nó khác với các dạng năng lượng tái tạo khác”, Ths Lưu Ánh Nguyệt chỉ rõ.
Từ kinh nghiệm quốc tế và các đánh giá thực trạng chính sách đối với Việt Nam, Ths Lưu Ánh Nguyệt cho rằng, phát triển nhiên liệu sinh học cần được đặt trong tổng thể chiến lược tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng và phát triển tài chính xanh. Một cơ chế đầu tư phù hợp có thể bao gồm nhóm giải pháp.
Trong đó, cần xây dựng lộ trình thị trường ổn định cho xăng sinh học và nhiên liệu sinh học trong giao thông. Lộ trình pha trộn cần rõ ràng, có bước đi phù hợp với năng lực cung ứng trong nước, khả năng thích ứng của hệ thống phân phối và niềm tin của người tiêu dùng. Đối với hàng không, cần nghiên cứu sớm cơ chế thử nghiệm nhiên liệu hàng không bền vững, nhất là trong bối cảnh các hãng hàng không quốc tế ngày càng chịu sức ép giảm phát thải. Kinh nghiệm quốc tế như Ấn Độ, Brazil, EU cho thấy để thúc đẩy đầu tư, Nhà nước cần tạo thị trường tiêu thụ ổn định thông qua lộ trình pha trộn rõ ràng; đồng thời mở rộng danh mục nguyên liệu để tránh phụ thuộc vào một nguồn đầu vào duy nhất. Đối với Việt Nam, kinh nghiệm này đặc biệt phù hợp nếu muốn phát triển ethanol từ sắn, mía, phụ phẩm nông nghiệp hoặc các loại nguyên liệu sinh khối khác.
Bên cạnh đó, theo Ths Lưu Ánh Nguyệt, cần thiết kế gói hỗ trợ đầu tư theo chuỗi giá trị. Các chính sách hỗ trợ không chỉ tập trung vào nhà máy sản xuất, mà cần hỗ trợ đồng bộ vùng nguyên liệu, thu gom phụ phẩm, logistics, cơ sở pha trộn, kiểm định chất lượng và tiêu chuẩn hóa sản phẩm. Các dự án sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, chất thải hữu cơ và dầu ăn đã qua sử dụng nên được ưu tiên vì vừa giảm phát thải, vừa thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Tín dụng theo chuỗi giá trị mà Việt Nam đang áp dụng trong nông nghiệp có thể được vận dụng cho phát triển nhiên liệu sinh học, do chuỗi nhiên liệu sinh học có sự liên kết chặt giữa vùng nguyên liệu nông nghiệp, thu gom phụ phẩm, sản xuất nhiên liệu, pha trộn, phân phối và tiêu thụ. Mô hình này phù hợp với điều kiện Việt Nam vì giúp ngân hàng đánh giá khoản vay dựa trên dòng tiền và hợp đồng liên kết của toàn chuỗi, thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm của từng chủ thể riêng lẻ.
Đối với nhiên liệu sinh học, tín dụng theo chuỗi có thể hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu sắn, mía, phụ phẩm nông nghiệp, dầu ăn đã qua sử dụng; đầu tư nhà máy ethanol, biodiesel; nâng cấp hạ tầng pha trộn, lưu trữ và phân phối; đồng thời giảm rủi ro cho ngân hàng thông qua hợp đồng tiêu thụ dài hạn với doanh nghiệp đầu mối xăng dầu. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần có doanh nghiệp đầu mối đủ năng lực, hợp đồng liên kết chặt chẽ, tiêu chuẩn chất lượng và phát thải vòng đời rõ ràng, cùng cơ chế chia sẻ rủi ro như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất hoặc bảo hiểm vùng nguyên liệu.
Đặc biệt, chuyên gia này cho rằng cần áp dụng cơ chế tài chính hỗn hợp cho dự án quy mô lớn hoặc công nghệ mới.
Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn chế và thị trường vốn xanh trong nước đang ở giai đoạn phát triển ban đầu, Việt Nam không nên chỉ dựa vào trợ cấp trực tiếp. Thay vào đó, cần sử dụng tài chính hỗn hợp để huy động đồng thời nguồn lực từ ngân sách, ngân hàng thương mại, định chế tài chính phát triển, quỹ khí hậu, nhà đầu tư tư nhân và doanh nghiệp đầu mối xăng dầu. Nhà nước có thể đóng vai trò “vốn mồi” thông qua hỗ trợ chuẩn bị dự án, tài trợ nghiên cứu khả thi, hỗ trợ một phần chi phí chứng nhận, hỗ trợ lãi suất có điều kiện hoặc bảo lãnh rủi ro cho các dự án sản xuất nhiên liệu sinh học tiên tiến, dự án chuyển hóa phụ phẩm nông nghiệp thành nhiên liệu, hoặc dự án thử nghiệm SAF.
Đối với các dự án cần vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài, cần nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro cụ thể hơn, như hợp đồng mua dài hạn giữa doanh nghiệp đầu mối xăng dầu/hãng hàng không và nhà sản xuất nhiên liệu sinh học (kinh nghiệm EU); cơ chế giá sàn có điều kiện; quỹ bù chênh lệch chi phí trong giai đoạn đầu (kinh nghiệm Indonesia); hoặc bảo lãnh tín dụng cho các khoản vay đầu tư hạ tầng pha trộn, lưu trữ và phân phối. Các công cụ này cần được thiết kế minh bạch, có thời hạn, có điều kiện về hiệu quả giảm phát thải và có cơ chế thoái lui khi thị trường đã đủ lớn. Cách tiếp cận này phù hợp hơn với thực tế Việt Nam so với việc áp dụng trợ cấp đại trà, vì vừa giảm gánh nặng ngân sách, vừa khuyến khích khu vực tư nhân tham gia.
“Các ưu đãi về thuế, phí, tín dụng hoặc hỗ trợ đầu tư cần dựa trên tiêu chí đo lường được, chẳng hạn mức giảm phát thải khí nhà kính, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu bền vững, tỷ lệ phụ phẩm được tái sử dụng, hiệu quả năng lượng và đóng góp cho phát triển vùng nông thôn. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng ưu đãi rộng nhưng hiệu quả môi trường thấp. Chẳng hạn, dự án nhiên liệu sinh học từ phụ phẩm, chất thải hoặc nguyên liệu không cạnh tranh với lương thực có thể được hưởng mức ưu đãi cao hơn so với dự án sử dụng nguyên liệu có rủi ro cao về sử dụng đất hoặc an ninh lương thực. Tương tự, tín dụng xanh hoặc trái phiếu xanh cho nhiên liệu sinh học cần yêu cầu công bố thông tin về phát thải vòng đời và nguồn gốc nguyên liệu. Điều này giúp tránh rủi ro “greenwashing”, đồng thời bảo đảm nguồn lực ưu đãi của Nhà nước và hệ thống tài chính được phân bổ vào các dự án có đóng góp môi trường thực chất”, Ths Lưu Ánh Nguyệt đề xuất.
Cuối cùng, theo bà Nguyệt, cần phát triển hệ thống dữ liệu và đo lường phát thải vòng đời. Đây là điều kiện nền tảng để nhiên liệu sinh học có thể được công nhận là sản phẩm xanh, tiếp cận tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh và tham gia thị trường carbon. Việt Nam cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc liên ngành về nguồn sinh khối, phụ phẩm nông nghiệp, chất thải hữu cơ, dầu ăn đã qua sử dụng, vùng nguyên liệu sắn, mía, bã mía, rơm rạ, phế phụ phẩm nông nghiệp và hệ số phát thải tương ứng. Dữ liệu này cần được cập nhật theo vùng, mùa vụ, khả năng thu gom thực tế, chi phí logistics và rủi ro khí hậu, thay vì chỉ dừng ở ước tính tiềm năng lý thuyết.
Bên cạnh dữ liệu nguyên liệu, cần xây dựng phương pháp tính phát thải vòng đời cho các loại nhiên liệu sinh học chủ yếu của Việt Nam, bao gồm ethanol từ sắn, ethanol từ mía, biodiesel từ dầu ăn đã qua sử dụng, nhiên liệu từ phụ phẩm nông nghiệp và trong dài hạn là SAF. Phương pháp này cần tương thích với hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định phát thải khí nhà kính và thị trường carbon trong nước.
Từ khóa: nhiên liệu sinh học, VOV, phụ phẩm, vàng xanh, thị trường nhiên liệu sinh học, xăng E10,xăng sinh học
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: nguyễn trang/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN