AI giả mạo khuôn mặt, người dân mất tiền còn phải chứng minh chính mình
Cập nhật: 4 giờ trước
Hà Nội chi hơn 40.000 tỷ đồng tổ chức lại mạng lưới đường sắt
Hà Nội loại 14 khu đất làm nhà ở thương mại, tháo gỡ vướng mắc giao đất dịch vụ
VOV.VN - Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể tạo ra hình ảnh, video giả mạo khuôn mặt ngày càng tinh vi, thậm chí đánh lừa hệ thống xác thực sinh trắc học của ngân hàng. Đại biểu Quốc hội cảnh báo, nếu không hoàn thiện hành lang pháp lý, người dân bị chiếm đoạt tài khoản mà còn phải chứng minh chính bản thân mình.
Tại phiên thảo luậnở hội trường về dự án Luật An ninh dữ liệu, dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, đại biểu Phạm Trọng Nhân, Đoàn ĐBQH TP.HCM, đặc biệt lưu ý những hạn chế của việc phụ thuộc vào sinh trắc học trong bối cảnh công nghệ giả mạo đang phát triển nhanh chóng.
Theo đại biểu, sinh trắc học vẫn cần thiết nhưng không thể được coi là giải pháp duy nhất để chống gian lận. Dẫn báo cáo của F-Plus vào đầu năm, cứ năm vụ tấn công gian lận sinh trắc học thì có một vụ sử dụng deepfake. Đáng chú ý, hình thức tấn công chèn dữ liệu, bỏ qua camera bằng phần cứng video giả mạo cũng gia tăng mạnh.
Đại biểu Phạm Trọng Nhân cho rằng, lâu nay người dùng thường mặc định khuôn mặt, giọng nói và dấu vân tay là những đặc điểm khó làm giả nhất. Tuy nhiên, sự phát triển của AI đã khiến giả định này không còn đủ an toàn. Đại biểu dẫn vụ việc Công an Thanh Hóa triệt phá đường dây mua bán gần 1.000 tài khoản ngân hàng vào tháng 6. Các đối tượng sử dụng hình ảnh giấy tờ tùy thân của chủ tài khoản để dựng video, đồng thời can thiệp thiết bị, đưa dữ liệu hình ảnh giả vào thay thế camera nhằm qua mặt hệ thống sinh trắc học của ứng dụng ngân hàng.
Từ thực tế này, đại biểu đặt vấn đề về mức độ an toàn của phương thức xác thực hiện nay. Nếu mật khẩu bị lộ, người dùng có thể đổi mật khẩu; thẻ bị mất có thể được khóa hoặc cấp lại. Nhưng khi khuôn mặt bị đánh cắp, người dân không thể thay đổi đặc điểm sinh học của mình.
Đại biểu cảnh báo hình ảnh khuôn mặt, giọng nói của mỗi người hiện diện ngày càng nhiều trên mạng xã hội. Đây có thể trở thành nguồn dữ liệu để tội phạm khai thác, tạo hình ảnh hoặc video giả mạo phục vụ hành vi lừa đảo. Theo đại biểu, theo dự thảo mức xác thực an toàn cao nhất là mức 3, yêu cầu tối thiểu hai yếu tố, trong đó có ít nhất một yếu tố đặc trưng. Tuy nhiên, nếu yếu tố sinh trắc học vẫn chủ yếu dựa vào khuôn mặt, giọng nói hoặc dấu vân tay thì nguy cơ bị giả mạo vẫn tồn tại.
Điều đáng lo ngại hơn, theo ông Nhân, không chỉ nằm ở việc kẻ gian có thể vượt qua hệ thống xác thực mà còn ở hệ quả pháp lý sau đó. Dự thảo quy định kết quả xác thực có giá trị xác định chủ thể tham gia giao dịch và có thể được coi là nguồn chứng cứ. Nhưng nếu đối tượng sử dụng hình ảnh, video giả để qua mặt ngân hàng, kết quả xác thực thành công có thể trở thành căn cứ bất lợi đối với chính người bị hại.
“Người bị hại có nguy cơ phải tự chứng minh mình không phải là mình”, đại biểu nêu vấn đề, đồng thời đặt câu hỏi một người dân ở vùng sâu, vùng xa sẽ chứng minh ra sao khi tài khoản bị chiếm đoạt bằng công nghệ giả mạo. Đại biểu kiến nghị quy định rõ, khi người dân kịp thời thông báo, khiếu nại việc danh tính bị sử dụng trái phép, kết quả xác thực không được mặc nhiên trở thành chứng cứ chống lại chính chủ. Tổ chức thực hiện xác thực phải có trách nhiệm chứng minh quy trình của mình đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chống giả mạo.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị giao dịch có rủi ro cao phải áp dụng mức xác thực chặt chẽ, kết hợp yếu tố sở hữu thiết bị phần cứng như chip bảo mật, thay vì chỉ dựa vào camera và mã OTP trên điện thoại. Đại biểu cũng đề xuất tăng cường kiểm định độc lập đối với hệ thống định danh, xác thực điện tử.
Đề cập giải pháp công nghệ trong nước, đại biểu nhắc tới chip bảo mật do daonh nghiệp trong nước ra mắt, tích hợp thuật toán mật mã quốc gia. Theo đại biểu, việc làm chủ chip và công nghệ mật mã sẽ góp phần hạn chế nguy cơ khóa xác thực bị đánh cắp, đồng thời tăng khả năng tự kiểm chứng của hệ thống. Ngoài ra, đại biểuđề nghị có cơ chế nhận diện hình ảnh, video và phát ngôn chính thức của cơ quan, tổ chức bằng dấu hiệu xác thực điện tử; đồng thời quy định rõ phạm vi, hạn mức và nhật ký hoạt động khi AI thay mặt con người thực hiện giao dịch.
Cùng quan tâm đến nguy cơ phát sinh từ công nghệ xác thực và trí tuệ nhân tạo, đại biểu Tô Ái Vang, Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ cho rằng, dự thảo cần quy định rõ trách nhiệm của đơn vị cung cấp giải pháp AI khi hệ thống đưa ra kết quả xác thực sai. Theo đại biểu, quy định tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả định danh và xác thực từ hệ thống AI chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định của mình trên cơ sở kết quả đó. Tuy nhiên, cách quy định này chưa phản ánh đầy đủ mối quan hệ trách nhiệm giữa bên sử dụng và bên phát triển, cung cấp công nghệ.
Đại biểuphân tích, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chỉ là đơn vị ứng dụng một sản phẩm AI thương mại. Họ không có quyền truy cập, chuyên môn hoặc khả năng can thiệp để sửa đổi thuật toán nếu hệ thống phát sinh lỗi. Vì vậy, theo đại biểu, không thể mặc nhiên buộc bên sử dụng gánh toàn bộ hậu quả từ sai sót nằm ngoài khả năng kiểm soát của mình. Bà kiến nghị bổ sung quy định đơn vị cung cấp giải pháp AI phải chịu trách nhiệm liên đới về bồi thường thiệt hại vật chất và chế tài hành chính khi xảy ra sự cố xác thực sai do chính hệ thống tạo ra, trừ trường hợp chứng minh được bên sử dụng cố tình gian lận.
Đại biểu cũng đề xuất tăng cường kiểm soát đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử; quy định rõ yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, kiểm toán độc lập và cơ chế công nhận danh tính điện tử nước ngoài. Theo bà, đây là những nội dung cần được xem xét để tránh tạo ra khoảng trống quản lý trong môi trường giao dịch số.
Ở góc độ lĩnh vực y tế, đại biểu Phạm Thu Xanh, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng cho rằng,dữ liệu cá nhân trong các lĩnh vực như y tế, ngân hàng, bảo hiểm tiềm ẩn nguy cơ cao bị lộ lọt, mua bán và khai thác trái phép. Đại biểu dẫn thực tế cơ quan chức năng đã phát hiện khoảng 300 vụ rao bán dữ liệu với hơn 1,7 triệu bản ghi thuộc nhiều lĩnh vực, trong đó có dữ liệu y tế. Đây là những thông tin đặc biệt nhạy cảm, gắn với lịch sử sức khỏe và bí mật riêng tư của mỗi người.
Theo đại biểu, bảo vệ dữ liệu không đồng nghĩa với hạn chế việc khai thác dữ liệu hợp pháp. Người bệnh ung thư có thể cần hội chẩn quốc tế; thai phụ cần kết quả xét nghiệm di truyền; bệnh nhân cấp cứu cần được truy cập kịp thời tiền sử bệnh án.
Do đó, bà đề nghị dự thảo quy định rõ cơ chế chuyển, chia sẻ dữ liệu phục vụ hội chẩn, chẩn đoán, điều trị và thanh toán theo yêu cầu hợp pháp hoặc có sự đồng ý của người bệnh. Đồng thời, cần bảo đảm các biện pháp kỹ thuật khẩn cấp không làm gián đoạn hoạt động cấp cứu, điều trị nội trú và dịch vụ y tế thiết yếu.
Đại biểu cũng đề nghị phân định trách nhiệm giữa cơ sở y tế và đơn vị quản lý nền tảng dữ liệu dùng chung. Bệnh viện cần chịu trách nhiệm trong phạm vi hệ thống do mình quản lý, trong khi đơn vị vận hành nền tảng phải chịu trách nhiệm về an ninh, an toàn và xử lý sự cố thuộc hệ thống được giao.
Những kiến nghị này cho thấy bảo vệ dữ liệu phải được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với quyền lợi, sự an toàn và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu của người dân.
Đại biểu Trần Hoàng Huy, Đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng, tiếp tục đặt vấn đề về rủi ro khi nhiều cơ quan, doanh nghiệp cùng phụ thuộc vào một nền tảng dữ liệu dùng chung. Theo đại biểu, từng bệnh viện, ngân hàng hay cơ quan cung cấp dịch vụ công có thể thực hiện đầy đủ việc phân loại dữ liệu và đánh giá an ninh trong phạm vi quản lý. Tuy nhiên, nếu nền tảng chung gặp sự cố, nhiều dịch vụ thiết yếu vẫn có thể bị gián đoạn đồng thời.
Đại biểu cho rằng, cần có cơ chế nhận diện những điểm phụ thuộc chung, đánh giá hậu quả lan tỏa và xây dựng phương án phối hợp dự phòng. Ông kiến nghị bổ sung trách nhiệm của cơ quan đầu mối trong việc phối hợp với các bộ, ngành để nhận diện rủi ro liên hệ thống; đồng thời yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ trọng yếu hỗ trợ khôi phục các chức năng thiết yếu khi dịch vụ bị gián đoạn.
Theo đại biểu, trách nhiệm của từng cơ quan, doanh nghiệp phải rõ ràng, nhưng trách nhiệm đối với rủi ro nằm giữa các đơn vị cũng phải có chủ thể chịu trách nhiệm. Từ những ý kiến trên, có thể thấy thách thức của an ninh dữ liệu không chỉ là ngăn chặn hành vi đánh cắp thông tin hay giả mạo danh tính. Vấn đề cốt lõi còn là xây dựng cơ chế xác thực đáng tin cậy, phân định trách nhiệm công bằng và bảo đảm người dân không phải gánh chịu hậu quả từ những lỗ hổng kỹ thuật ngoài khả năng kiểm soát.
Khi AI ngày càng có khả năng tạo ra những hình ảnh, video giống người thật, niềm tin vào giao dịch số không thể chỉ dựa trên một lần quét khuôn mặt. Hệ thống pháp luật cần bảo đảm rằng công nghệ phục vụ con người, chứ không biến chính người bị hại thành người phải tự chứng minh mình vô tội.
Từ khóa: giả mạo khuôn mặt, AI giả mạo khuôn mặt, deepfake, sinh trắc học, an ninh dữ liệu, xác thực điện tử, lừa đảo ngân hàng, bảo mật thông tin cá nhân, trí tuệ nhân tạo, chip bảo mật, Luật An ninh dữ liệu
Thể loại: Xã hội
Tác giả: văn ngân/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN