"Tuyên ngôn Độc lập" khẳng định nhân dân là chủ thể của lịch sử và nguồn gốc sức mạnh của quốc gia

Cập nhật: 48 phút trước

VOV.VN - Theo PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, "Tuyên ngôn Độc lập" ngày 2/9/1945 không xem độc lập chỉ là sự thay đổi chủ quyền trên danh nghĩa, mà đặt con người ở vị trí trung tâm. Đất nước độc lập phải là đất nước trong đó nhân dân được sống tự do, có quyền làm chủ vận mệnh của mình.

Đặt nhân dân ở vị trí trung tâm của sự nghiệp cách mạng

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc "Tuyên ngôn Độc lập", khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do.

81 năm đã trôi qua, nhưng giá trị của "Tuyên ngôn Độc lập" vẫn vẹn nguyên ý nghĩa. Đây không chỉ là văn kiện lịch sử khẳng định sự ra đời của Nhà nước Việt Nam độc lập, mà còn là sự kết tinh tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự do, quyền con người và quyền làm chủ của nhân dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định đưa dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

TS Dương Minh Huệ - Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho biết, mở đầu "Tuyên ngôn Độc lập", Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên tư tưởng bất hủ của nhân loại về quyền tự nhiên của con người được ghi nhận trong "Tuyên ngôn Độc lập" của nước Mỹ và "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của Cách mạng Pháp. Người khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Không dừng lại ở quyền con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển và nâng cao thành quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Đây là sự phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập không phải là mục tiêu mang tính hình thức. Độc lập phải đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Người từng khẳng định: nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa trọn vẹn.

Tư tưởng đó đặt nhân dân ở vị trí trung tâm của sự nghiệp cách mạng. Nhân dân là chủ thể làm nên lịch sử, đồng thời là người thụ hưởng những thành quả của độc lập và phát triển.

“Quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trở thành giá trị bất biến của dân tộc Việt Nam”, TS Dương Minh Huệ cho biết.

Phân tích về tư tưởng độc lập, tự do và quyền làm chủ của nhân dân trong "Tuyên ngôn Độc lập", Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu - Phó Viện trưởngViện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam (Bộ Quốc phòng) cho biết, Tuyên ngôn không xem độc lập chỉ là sự thay đổi chủ quyền trên danh nghĩa, mà đặt con người ở vị trí trung tâm. Đất nước độc lập phải là đất nước trong đó nhân dân được sống tự do, có quyền làm chủ vận mệnh của mình. Vì thế, giá trị của độc lập được đo bằng chính khả năng đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Cùng với đó, Tuyên ngôn khẳng định nhân dân là chủ thể của lịch sử và nguồn gốc sức mạnh của quốc gia. Chính nhân dân đã đứng lên giành chính quyền, bảo vệ nền độc lập và trở thành chủ nhân của Nhà nước mới. Từ đó hình thành một tư tưởng xuyên suốt: Nước độc lập phải do nhân dân làm chủ; chính quyền phải vì nhân dân và dựa vào nhân dân.

Độc lậpkhông có ý nghĩa đầy đủ nếu đời sống nhân dân không được nâng lên

Theo Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, "Tuyên ngôn Độc lập" cònlà sự kết tinh của tầm nhìn chiến lược, tư tưởng chính trị và bản lĩnh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám - 1945, biến sức mạnh của cả dân tộc thành lực lượng làm nên bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc.

Trước hết, Đảng đã xác định đúng lực lượng, đúng mục tiêu và đúng thời cơ cách mạng. Từ khi ra đời, trước tình thế, thời cơ cách mạng, từ năm 1939, Đảng đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đồng thời chủ trương tập hợp mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, xu hướng chính trị. Mặt trận Việt Minh trở thành tổ chức tiêu biểu để quy tụ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Đây chính là nghệ thuật biến lòng yêu nước vốn có của hàng triệu người thành sức mạnh chính trị và hành động cách mạng thống nhất.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn đặc biệt sắc bén trong nhận định thời cơ. Người cùng Trung ương Đảng kịp thời chuyển hướng chỉ đạo khi tình hình thế giới và trong nước biến chuyển nhanh chóng; chủ trương tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi, với tinh thần hành động quyết đoán, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

“Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm1945, vì thế không phải sự may mắn của lịch sử, mà là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, tổ chức lực lượng chặt chẽ, lựa chọn đúng thời cơ và hành động quyết đoán”, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu cho biết.

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, sau thắng lợi, tầm vóc chính trị của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc chuyển thành quả khởi nghĩa thành một chính thể hợp pháp, chính danh trước quốc dân và quốc tế. Tuyên ngôn Độc lập vừa khẳng định quyền tự quyết của dân tộc, vừa dựa trên những nguyên lý phổ quát về quyền con người và quyền dân tộc để khẳng định chính nghĩa của nước Việt Nam mới.

“Có thể nói, Đảng là lực lượng tổ chức và lãnh đạo; Hồ Chí Minh là người tổ chức, quy tụ và dẫn dắt; Nhân dân là chủ thể trực tiếp làm nên thắng lợi. Sự thống nhất giữa đường lối đúng, lãnh tụ kiệt xuất và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đã đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, đồng thời để lại bài học trường tồn: Muốn tạo nên bước ngoặt lịch sử, phải biết dựa vào dân, tập hợp sức mạnh của dân, khơi dậy lòng yêu nước và lựa chọn đúng thời cơ để hành động”, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu cho biết.

Nhấn mạnh tư tưởng “độc lập - tự do” trong "Tuyên ngôn Độc lập" cần được nhìn nhận như một giá trị vừa có tính lịch sử, vừa có ý nghĩa thời đại, PGS.TS Nguyễn Văn Sáu cho rằng, đó không phải là hai khái niệm tách rời, càng không phải độc lập chỉ dừng ở việc xác lập chủ quyền quốc gia; độc lập phải là điều kiện để nhân dân được sống tự do, làm chủ và có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Bởi độc lập sẽ không có ý nghĩa đầy đủ nếu đời sống nhân dân không được nâng lên. Giá trị cốt lõi của “tự do” hôm nay phải được cụ thể hóa bằng việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thượng tôn pháp luật, công bằng xã hội, cơ hội phát triển, việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống an toàn và điều kiện để mỗi người phát huy năng lực, cống hiến và thụ hưởng thành quả phát triển.

"Giữ vững độc lập là để nhân dân có quyền quyết định tương lai của mình; phát triển đất nước là để quyền độc lập ấy được chuyển hóa thành tự do, ấm no và hạnh phúc. Đó chính là sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong "Tuyên ngôn Độc lập" hôm nay", PGS.TS Nguyễn Văn Sáu cho biết.

Từ khóa: Tuyên ngôn độc lập, tuyên ngôn độc lập, nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự do, quyền làm chủ, quyền làm chủ của nhân dân

Thể loại: Nội chính

Tác giả: kim anh/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập