Tăng trưởng 10%: Việt Nam phải dựa vào năng suất

Cập nhật: 20 phút trước

VOV.VN - Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030. Để duy trì tốc độ cao mà vẫn bảo đảm phát triển bền vững, nền kinh tế cần chuyển mạnh từ mở rộng nguồn lực sang nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả vốn, lao động, đất đai, năng lượng và tài nguyên.

Đưa năng suất trở thành động lựctăng trưởng 10%

Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam - VCSF 2026 với chủ đề “Tăng trưởng bứt phá - Phát triển bền vững: Hai mục tiêu, một hành trình” do VCCI tổ chức, các chuyên gia và đại diện cộng đồng doanh nghiệp cho rằng yêu cầu hiện nay không chỉ là tăng trưởng nhanh mà phải nâng chất lượng tăng trưởng.

Theo ông Hồ Sỹ Hùng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch VCCI, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, đồng thời hướng tới nền kinh tế có năng suất cao hơn, kinh tế số phát triển mạnh hơn và năng lực cạnh tranh ngày càng được nâng cao.

Theo ông Hùng, phía sau mục tiêu về tốc độ là yêu cầu chuyển sang giai đoạn phát triển dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

“Muốn tăng trưởng nhanh mà vẫn bền vững, chúng ta phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đơn vị nguồn lực thông qua đổi mới công nghệ, năng suất, chuyển đổi số và sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên”, ông Hùng nhấn mạnh.

Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, những động lực từng giúp Việt Nam tăng trưởng trong nhiều thập kỷ qua vẫn quan trọng, nhưng nền kinh tế khó có thể tiếp tục chủ yếu dựa vào tăng vốn, tăng lao động hay mở rộng sản xuất theo chiều rộng.

“Việt Nam cần tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng vốn, lao động, đất đai, năng lượng và tài nguyên, chuyển mạnh từ mở rộng đầu vào sang dựa vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Năng suất không đơn thuần là làm việc nhiều hơn hay nhanh hơn, nó phản ánh chất lượng của cả hệ sinh thái kinh tế”, ông Giáp nói.

Theo đó, năng suất phụ thuộc vào công nghệ, quản trị, kỹ năng lao động, khả năng tiếp cận vốn, đất đai, hạ tầng, thị trường, chất lượng thể chế và mức độ cạnh tranh. Vì vậy, năng suất cần trở thành một tiêu chí quan trọng trong thiết kế và đánh giá chính sách.

Hiệu quả phát triển cũng không nên chỉ đo bằng số vốn huy động, dự án được phê duyệt hay số doanh nghiệp được hỗ trợ, mà cần nhìn vào mức độ cải thiện năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đổi mới sáng tạo cũng cần gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đổi mới có thể bắt đầu từ cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng phần mềm quản lý, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu hoặc nâng cao chất lượng quản trị.

Từ thu hút FDI đến xây dựng hệ sinh thái trong nước

Một yêu cầu khác của mô hình tăng trưởng mới là nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước. Việt Nam đã đạt nhiều kết quả trong thu hút FDI, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, tạo việc làm và kết nối nền kinh tế với chuỗi giá trị toàn cầu.

Tuy nhiên, theo ông Giáp, mục tiêu trong giai đoạn mới không nên dừng ở việc thu hút thêm dự án hay vốn đăng ký mà phải gia tăng giá trị mà nền kinh tế trong nước nhận được từ các dòng vốn này.

Khi các tập đoàn đầu tư vào điện tử, bán dẫn, ô tô, năng lượng hay công nghệ tại Việt Nam, hiệu quả cần được đánh giá qua mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ và kỹ năng, đào tạo nhân lực, phát triển nghiên cứu và phát triển tại chỗ, qua đó nâng năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Do đó, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “thu hút dự án FDI” sang “xây dựng hệ sinh thái xung quanh FDI”, tạo tác động lan tỏa lớn hơn đối với khu vực doanh nghiệp trong nước.

Còn ông Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) nêu quan điểm, một nền kinh tế tự cường và bền vững phải được xây dựng từ những hệ sinh thái và chuỗi giá trị có sức lan tỏa.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh không còn nằm ở riêng từng doanh nghiệp mà phụ thuộc vào cả chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, sản xuất, logistics, công nghệ, tài chính đến thị trường và người tiêu dùng.

Cùng với đó, thể chế và nguồn nhân lực là những yếu tố quyết định. Công nghệ có thể nâng năng suất của một doanh nghiệp, nhưng thể chế tốt có thể nâng hiệu quả của cả cộng đồng doanh nghiệp.

Môi trường thể chế cần bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo để nguồn lực được phân bổ tới những doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nhất.

Nguồn nhân lực cũng phải đủ khả năng sử dụng, điều chỉnh, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ. Khi trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, cơ hội nâng năng suất không chỉ đến từ việc đào tạo chuyên gia AI mà còn từ việc giúp hàng triệu người lao động ứng dụng AI và công nghệ số vào công việc hiện tại.

Các chuyên gia cho rằng năng suất, chuyển đổi xanh và khả năng chống chịu cần được thúc đẩy đồng thời. Khi các thị trường xuất khẩu ngày càng siết yêu cầu về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững, năng lực xanh không còn chỉ là vấn đề môi trường mà đã trở thành một yếu tố của năng lực cạnh tranh.

Tăng trưởng hai con số không chỉ là câu chuyện về tốc độ mà còn là câu chuyện về chất lượng phát triển. Phát triển bền vững không phải là mục tiêu đặt phía sau tăng trưởng mà phải được đặt ngay trong cách Việt Nam tạo ra tăng trưởng hôm nay.

Từ khóa: tăng trưởng 10%, tăng trưởng 10% Việt Nam, tăng trưởng GDP 10%, năng suất Việt Nam, tăng năng suất lao động, tăng trưởng bền vững, năng suất kinh tế, chuyển đổi số Việt Nam, nâng cao năng suất, doanh nghiệp Việt Nam, thu hút FDI, hệ sinh thái FDI, liên kết doanh nghiệp, kinh tế số Việt Nam, chuyển đổi xanh

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: ánh phương/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập