Tận dụng định chế quốc tế mới để tạo đột phá về nguồn nhân lực
Cập nhật: 1 giờ trước
VOV.VN - Các định chế quốc tế mới tạo cơ hội cho Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hội nhập sâu vào thị trường lao động toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả thời cơ, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, cải cách giáo dục mạnh mẽ và tăng cường liên kết đa chiều...
Tại hội thảo “Đột phá chiến lược về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh mới”, TS Nguyễn Ngọc Lan, Viện Nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương, cung cấp thông tin về một số định chế quốc tế mới có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao như:
Liên minh Toàn cầu về kỹ năng (GSP):GSP được xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa hai bên: quốc gia phái cử người lao động sẽ đảm nhận việc đào tạo kỹ năng ban đầu, trong khi quốc gia tiếp nhận sẽ hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, công nghệ đào tạo và bảo đảm cơ hội việc làm. Mục tiêu của GSP là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực toàn cầu, góp phần thúc đẩy di cư hợp pháp và an toàn, giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động kỹ năng tại các quốc gia phát triển, đồng thời nâng cao giá trị nguồn nhân lực và khả năng hội nhập quốc tế của các quốc gia đang phát triển.
Diễn đàn Toàn cầu về kỹ năng trong nền kinh tế số (GFSDE):Mục tiêu của diễn đàn là tạo điều kiện để các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, có thể nâng cao năng lực nguồn nhân lực, thông qua việc tiếp cận với tri thức mới, công nghệ số và các chương trình đào tạo kỹ năng tiên tiến. GFSDE tập hợp và công bố các bộ dữ liệu lớn về xu hướng kỹ năng số toàn cầu, nhu cầu tuyển dụng trong nền kinh tế số và khoảng cách kỹ năng giữa các vùng, các ngành. Những dữ liệu này được sử dụng như công cụ hoạch định chính sách, thiết kế chương trình đào tạo, đồng thời là cơ sở để đo lường hiệu quả chuyển đổi số trong giáo dục và thị trường lao động.
Tổ chức Hợp tác đổi mới và kỹ năng (SIP):Các chương trình hợp tác trong khuôn khổ SIP chú trọng 3 trụ cột: Phát triển kỹ năng số và kỹ năng đổi mới; Xây dựng năng lực thể chế đổi mới sáng tạo; Tăng cường liên kết giữa các tác nhân trong hệ sinh thái đổi mới (gồm chính phủ, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức trung gian).
Hội đồng Lực lượng lao động tương lai ASEAN (AFWC):Trọng tâm chiến lược của AFWC là thúc đẩy quá trình “chuẩn bị cho việc làm tương lai” thông qua 4 trụ cột chính: dự báo và phân tích xu hướng kỹ năng; phát triển hệ sinh thái kỹ năng linh hoạt và học tập suốt đời; thúc đẩy đối tác công - tư trong đào tạo nguồn nhân lực; tăng cường tính bao trùm, công bằng xã hội trong tiếp cận cơ hội việc làm và đào tạo.
TS Nguyễn Ngọc Lan cho biết, định chế quốc tế cung cấp nguồn lực tài chính và sáng tạo cho giáo dục và đào tạo kỹ năng. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước của Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng số và phát triển lực lượng lao động thích ứng với chuyển đổi xanh, việc tiếp cận các mô hình tài chính cho phép Việt Nam huy động thêm vốn đầu tư dài hạn mà không làm gia tăng gánh nặng nợ công.
Thông qua các định chế quốc tế, Việt Nam có cơ hội tăng cường hợp tác về chuyển giao công nghệ giáo dục, tiêu chuẩn kỹ năng, công nhận bằng cấp và xây dựng chương trình đào tạo chung. Đây là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường lao động khu vực và toàn cầu. Việc tích cực tham gia các cơ chế này còn giúp Việt Nam tận dụng được chất xám toàn cầu, tăng cường liên kết giữa các viện, các trường đại học, các doanh nghiệp và Nhà nước, đồng thời nâng cao vị thế trong hợp tác khu vực và thế giới.
Bên cạnh đó, các định chế quốc tế mới thúc đẩy một cách tiếp cận mới trong phát triển nguồn nhân lực, đó là: linh hoạt, số hóa, lấy kết quả làm trung tâm và hướng đến kỹ năng suốt đời. Thông qua hợp tác với các định chế quốc tế, Việt Nam có thể học hỏi các mô hình đào tạo tiên tiến, đồng thời đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số trong giáo dục.
Ngoài ra, các định chế mở ra cơ hội cho Việt Nam tham gia định hình các chuẩn mực quốc tế mới về giáo dục, kỹ năng và phát triển con người. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang cùng nhau xây dựng các khung hợp tác xuyên quốc gia về công nhận kỹ năng, đạo đức AI trong giáo dục, hoặc học tập tích hợp xuyên biên giới, sự chủ động tham gia của Việt Nam không chỉ giúp bảo vệ lợi ích quốc gia, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế một cách bình đẳng và hiệu quả hơn.
Bên cạnh những thuật lợi, TS. Nguyễn Xuân Cường, Viện nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương cho biết những thách thức đặt ra cho nguồn nhân lực Việt Nam như: chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực của Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và kinh tế tri thức; giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề, chưa theo kịp yêu cầu của thị trường lao động và công nghệ; khu vực tư nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận, giữ chân và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực do chưa đủ tiềm lực. Tác động của chuyển đổi số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi nhanh chóng cấu trúc nghề nghiệp, khiến nhiều ngành nghề truyền thống bị thay thế, trong khi các ngành nghề mới lại đòi hỏi kỹ năng phức tạp mà hệ thống giáo dục chưa kịp chuẩn bị; Bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội giáo dục và phát triển kỹ năng vẫn tồn tại; năng lực thể chế, chính sách và hệ thống quản trị nhân lực quốc gia còn phân tán, thiếu đồng bộ.
TS. Nguyễn Xuân Cường cho rằng, những thời cơ và thách thức đan xen đòi hỏi Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, mang tính đột phá, linh hoạt và thích ứng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trước hết, Việt Nam cần xây dựng và triển khai chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Chiến lược cần được lồng ghép trong các quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp quốc gia, bảo đảm tính tích hợp và liên thông giữa các cấp chính quyền, giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - người học.
Cải cách giáo dục là mũi đột phá để nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực. Xây dựng khung năng lực quốc gia và ngành, nghề tương thích với khung tham chiếu trình độ ASEAN và các chuẩn mực quốc tế, giúp người lao động Việt Nam được công nhận ở thị trường nước ngoài.
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, mô hình việc làm biến động mạnh, Việt Nam cần thiết lập cơ chế đào tạo lại - nâng cấp kỹ năng cho lực lượng lao động hiện tại, đặc biệt là trong các ngành có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó tăng cường liên kết giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - các tổ chức quốc tế. Khuyến khích các doanh nghiệp FDI đầu tư vào các trung tâm đào tạo nhân lực tại chỗ, nâng cao năng lực nội sinh của Việt Nam.
Chính sách ưu tiên phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư, cán bộ quản lý giỏi trong các lĩnh vực trọng yếu là điều cần thiết. Cùng với đóViệt Nam cần chủ động tận dụng và tham gia sâu vào các định chế quốc tế để tranh thủ nguồn lực bên ngoài.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển chiến lược với khát vọng vươn lên trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Trong hành trình đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là “điểm nghẽn” cần tháo gỡ và là “động lực” cốt lõi cần thúc đẩy.
Từ khóa: nhân lực, định chế quốc tế; chất lượng nguồn nhân lực, hội nhập sâu, thị trường lao động toàn cầu, cải cách giáo, liên kết đa chiều
Thể loại: Nội chính
Tác giả: minh thư/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN