Nghị quyết số 57: Dữ liệu số - tài sản chiến lược của doanh nghiệp

Cập nhật: 1 giờ trước

VOV.VN - Nếu trước đây đất đai, vốn và lao động được xem là ba nguồn lực quyết định năng lực sản xuất thì ngày nay, dữ liệu như một loại “tài sản” đặc biệt. Giá trị của dữ liệu nằm ở khả năng tạo ra tri thức, hỗ trợ ra quyết định và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả doanh nghiệp lẫn bộ máy quản lý nhà nước.

“Đất canh tác” nuôi dưỡng đổi mới và tăng trưởng số

Trong bối cảnh kinh tế số đang trở thành trụ cột chiến lược của Việt Nam, dữ liệu không còn là yếu tố phái sinh mà đã trở thành một loại tài sản kinh tế trọng yếu, quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp. Khai thác dữ liệu hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đứng vững trên thị trường trong nước mà còn mở rộng cơ hội vươn ra quốc tế.

Chia sẻ tại một diễn đàn về “Xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên dữ liệu”, ông Lê Quốc Trung – CFO của Chanel Việt Nam - với nhiều năm kinh nghiệm từ các tập đoàn lớn như FrieslandCampina (Cô Gái Hà Lan) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của dữ liệu trong bối cảnh kinh doanh ngày nay.

Theo ông Trung, dữ liệu không chỉ đơn thuần là những con số mà nó là yếu tố giúp doanh nghiệp lên kế hoạch, xây dựng chiến lược, đưa ra quyết định, cải thiện quy trình, và điều chỉnh ngân sách.

Từ thực tế bản thân đã trải qua, ông Trung cho biết, tập đoàn FrieslandCampina (Cô Gái Hà Lan) mỗi năm mua 12 tỷ lít sữa và mỗi quyết định về giá sữa sẽ dẫn đến sự thay đổi cả tỷ đô về doanh số. Và tập đoàn phải đưa ra những quyết định "tỷ đô" hằng tháng về giá mua sữa dựa trên phân tích dữ liệu. Họ xử lý 35 triệu lít sữa mỗi ngày với thời gian cho phép tối đa 6 giờ và đạt độ chính xác dự báo tới 99.9%.Điều này có được nhờ thu thập và phân tích gần 200 yếu tố đầu vào khác nhau, từ thời tiết, sức khỏe từng con bò, đến… giá dầu thô. Bởi giá dầu liên quan đến giá phân bón kéo theo ảnh hưởng tới chất lượng cỏ, và chất lượng cỏ mà bò ăn vào sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sữa thu được. Một mối liên hệ sâu sát nhưng khá bất ngờ.

“Như vậy là dữ liệu không chỉ là thông tin mà còn là một nội lực, một tài sản, một lợi thế cạnh tranh. Việc sử dụng dữ liệu hiệu quả giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn trong vận hành và đầu tư, từ đó nâng cao hiệu quả và tạo lợi thế trên thị trường”, ông Trung nhấn mạnh.

Còn theo quan điểm của ông Lê Hồng Việt, Tổng Giám đốc FPT Smart Cloud, dữ liệu chính là nền tảng cốt lõi của kinh tế số và là "nhiên liệu" cho trí tuệ nhân tạo. Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, doanh nghiệp chỉ có thể làm chủ AI, điện toán đám mây hay các dịch vụ số nếu trước hết làm chủ được dữ liệu của chính mình.

Theo ông Việt, việc xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung, chuẩn hóa và có khả năng khai thác theo thời gian thực không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn tạo điều kiện hình thành các sản phẩm, dịch vụ số mới có giá trị gia tăng cao.

"Dữ liệu không nên bị "đóng khung" trong từng bộ phận mà cần được kết nối xuyên suốt để trở thành tài sản chung phục vụ quản trị và ra quyết định chiến lược", ông Việt khẳng định.

Khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu

Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học,công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã nêu rõ: Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.

Đồng thời,Nghị quyết 57-NQ/TWyêu cầu, có cơ chế, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đầu tư, xây dựng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây; thu hút doanh nghiệp nước ngoài đặt trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây tại Việt Nam. Hình thành hạ tầng lưu trữ, tính toán đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh. Sớm hoàn thành và phát huy hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia; đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu vùng. Xây dựng, phát huy hiệu quả dữ liệu quốc gia, dữ liệu của bộ, ngành, địa phương bảo đảm liên thông, tích hợp, chia sẻ.

Từ góc nhìn kinh tế học, GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (Đại học Kinh tế Quốc dân), phân tích sự khác biệt căn bản của dữ liệu so với các yếu tố sản xuất truyền thống là tính không cạnh tranh. Một bộ dữ liệu có thể được nhiều chủ thể cùng khai thác mà không làm giảm giá trị sử dụng, trong khi càng được phân tích và kết nối, dữ liệu càng tạo ra nhiều giá trị mới. Chính đặc tính này giúp dữ liệu trở thành một dạng “vốn dữ liệu”, có khả năng thúc đẩy năng suất và tạo ra lợi suất tăng dần theo quy mô thông qua hiệu ứng mạng lưới, điều mà vốn vật chất khó có được.

GS.TS. Trần Thọ Đạt cho rằng, mô hình tăng trưởng hiện đại cần được mở rộng để ghi nhận dữ liệu như một yếu tố sản xuất mới. Thay vì chỉ coi tiến bộ công nghệ là yếu tố ngoại sinh như trong các mô hình truyền thống, dữ liệu có thể trực tiếp nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp thông qua việc tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí giao dịch, cải thiện chất lượng dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Khi doanh nghiệp sở hữu năng lực thu thập, xử lý và khai thác dữ liệu hiệu quả, cả vốn và lao động đều được sử dụng hiệu quả hơn.

Điều đó cũng lý giải vì sao nhiều quốc gia đang chuyển trọng tâm chính sách từ phát triển hạ tầng công nghệ sang phát triển hạ tầng dữ liệu. Thực chất, dữ liệu không đơn thuần là sản phẩm của chuyển đổi số mà đang trở thành nền tảng của mọi hoạt động đổi mới sáng tạo. Từ tài chính, logistics, thương mại điện tử cho tới sản xuất thông minh, dữ liệu giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn nhu cầu thị trường, cá thể hóa sản phẩm, tối ưu chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ở cấp độ quốc gia, dữ liệu còn giúp nâng cao chất lượng điều hành, phân bổ nguồn lực và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng.

Tuy nhiên, theo GS.TS. Trần Thọ Đạt, dữ liệu chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được đặt trong một khuôn khổ thể chế phù hợp. Nếu thiếu các quy định rõ ràng về quyền sở hữu, chia sẻ, bảo vệ và khai thác dữ liệu, nguồn lực này rất dễ bị phân mảnh, lãng phí hoặc bị một số doanh nghiệp lớn tích tụ, tạo ra nguy cơ độc quyền và làm giảm hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế. Chính vì vậy, phát triển kinh tế dữ liệu trước hết là bài toán về thể chế, quản trị và chính sách công.

Bước vào kỷ nguyên số, Việt Nam cũng đã hình thành hệ thống chủ trương và chính sách tương đối toàn diện nhằm phát triển dữ liệu. Từ Nghị quyết số 57-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIII và XIV của Đảng đến Chiến lược dữ liệu quốc gia, dữ liệu đều được xác định là nguồn lực quan trọng của nền kinh tế số. Hàng loạt đạo luật như Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Công nghiệp công nghệ số đã tạo nền tảng pháp lý cho quá trình hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia. Đây được xem là bước chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang tư duy “kiến tạo hạ tầng dữ liệu”.

Từ khóa: Nghị quyết 57, dữ liệu số, kinh tế, doanh nghiệp,nghị quyết 57, kinh tế số, TS Trần Thọ Đạt, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số, dữ liệu doanh nghiệp

Thể loại: Kinh tế

Tác giả: ngọc hoà/vov.vn

Nguồn tin: VOVVN

Bình luận






Đăng nhập trước khi gửi bình luận Đăng nhập