Nghị quyết số 10: Từ “nam châm” hút vốn đến hệ sinh thái làm chủ công nghệ
Cập nhật: 2 giờ trước
VOV.VN - Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị mở ra kỷ nguyên mới cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, tập trung vào chất lượng, xây dựng hệ sinh thái công nghệ cao và tạo bệ đỡ cho doanh nghiệp nội địa tự chủ công nghệ.
Nửa đầu năm 2026, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục chảy mạnh vào Việt Nam. Điều này cho thấy, niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn được duy trì trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn. Việc nhà đầu tư mới lựa chọn Việt Nam là điểm đến và nhà đầu tư cũ quyết định mở rộng sản xuất kinh doanh cũng tạo nền tảng thuận lợi để Việt Nam triển khai thu hút FDI thế hệ mới theo định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư toàn cầu chịu tác động từ căng thẳng địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại và những thay đổi trong chính sách thuế của Hoa Kỳ, kết quả thu hút FDI của Việt Nam vẫn gây nhiều ấn tượng.
6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký đạt 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước, vốn thực hiện đạt hơn 13 tỷ USD, tăng 11,2%. Đáng chú ý, riêng tháng 6 đã ghi nhận gần 10 tỷ USD vốn đăng ký mới và bổ sung, mức tăng hiếm thấy nếu xét theo từng tháng trong nhiều năm trở lại đây.
Với những kết quả tích cực đạt được, báo cáo trước Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định thu hút đầu tư nước ngoài là một điểm sáng của nền kinh tế…
Điều đáng nói vốn đăng ký mới, vốn điều chỉnh và vốn góp vốn, mua cổ phần đều ghi nhận mức tăng sau khi tháng 6 khép lại. Điều này phản ánh các nhà đầu tư tin tưởng và lựa chọn tiếp tục gắn bó, mở rộng hoạt động sản xuất tại Việt Nam thay vì tìm kiếm địa điểm sản xuất mới.
Bên cạnh vốn đăng ký, việc giải ngân vốn FDI là minh chứng cho thấy nhà đầu tư tin tưởng, yên tâm kinh doanh tại Việt Nam. Sáu tháng đầu năm, hơn 13 tỷ USD đã được thực hiện, mức cao nhất của cùng kỳ trong vòng 5 năm. Điều này cho thấy, các nhà đầu tư thực hiện đúng cam kết khi đẩy nhanh triển khai dự án trên thực tế.
Nếu trước đây, thành công trong thu hút FDI thường được đánh giá qua quy mô vốn đăng ký thì hiện nay, bài toán đã chuyển sang chất lượng của dòng vốn.
Bên cạnh sự hiện diện lâu dài của các tập đoàn công nghệ lớn như Intel, Samsung, LG, Foxconn, Goertek, Amkor hay Hana Micron,… Việt Nam tiếp tục đón nhận thêm nhiều dự án công nghệ cao quy mô lớn.
Dòng vốn chảy vào lĩnh vực sản xuất vật liệu phục vụ pin, linh kiện điện tử, bán dẫn, mở rộng nhà máy của những tập đoàn công nghệ quốc tế cho thấy Việt Nam đã và đang từng bước dịch chuyển từ vai trò là điểm đến của lao động giá rẻ sang vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu.
Điều này cũng được phản ánh qua cơ cấu thu hút đầu tư khi lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với hơn 18 tỷ USD, chiếm hơn 53% tổng vốn đăng ký.
Trong bối cảnh dòng vốn FDI tiếp tục chảy mạnh vào Việt Nam thì việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW được đánh giá là kịp thời, tạo nền tảng để chuyển từ thu hút số lượng sang thu hút các dòng FDI chất lượng cao.
Nếu trước đây, mục tiêu chủ yếu là thu hút càng nhiều vốn càng tốt thì định hướng mới đặt trọng tâm vào việc lựa chọn các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước…
Nghị quyết hướng đến việc ưu tiên các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ cao cùng các dự án có khả năng tạo liên kết sâu với khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Đây được xem là bước chuyển từ tư duy "thu hút số lượng" sang tư duy "chất lượng, xây dựng hệ sinh thái đầu tư".
Nghị quyết cũng đặt mục tiêu thu hút 200 - 300 tỷ USD vốn FDI đăng ký và khoảng 150 - 200 tỷ USD thực hiện trong giai đoạn 2026-2030…
Thực tế, nhiều qua qua việc ưu đãi thuế, giá thuê đất hay chi phí nhân công được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Thế nhưng, bối cảnh hiện nay đã khác.
Không chỉ tại thị trường Việt Nam, các nhà đầu tư lớn ngày càng quan tâm nhiều hơn đến sự ổn định của môi trường kinh doanh, khả năng dự báo chính sách, chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng, sự minh bạch trong quá trình thực thi… Nói cách khác, điều nhà đầu tư tìm kiếm không chỉ là chi phí thấp mà là cơ hội mà thị trường đem lại khi đầu tư dài hạn.
Đây cũng là quan điểm được các chuyên gia kinh tế và các tổ chức quốc tế chia sẻ. Những khuyến nghị về việc hoàn thiện thể chế, nâng cao tính nhất quán của chính sách, cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng đều cho thấy lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn mới sẽ đến từ chất lượng môi trường đầu tư thay vì các ưu đãi đơn thuần.
Thực tế các quốc gia trong khu vực ngày càng cạnh tranh gay gắt khi cùng triển khai ưu đãi hấp dẫn, nhằm đón làn sóng dịch chuyển đầu tư. Còn các tập đoàn đa quốc gia cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực chất lượng, năng lực đổi mới sáng tạo, hạ tầng số, năng lượng sạch và chuỗi cung ứng nội địa…
Vì thế để duy trì sức hấp dẫn trong dài hạn, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất của các doanh nghiệp FDI.
Nếu tận dụng tốt cơ hội từ Nghị quyết số 10-NQ/TW, đồng thời kiên trì cải cách thể chế, Việt Nam không chỉ thu hút dòng vốn FDI mà còn phát triển hệ sinh thái khoa học công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn lên làm chủ công nghệ.
Từ khóa: Nghị quyết số 10, Nghị quyết 10, công nghệ, Bộ Chính trị, doanh nghiệp, nội địa, đầu tư, FDI, đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thể loại: Nội chính
Tác giả: tuấn linh/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN