Nghị quyết số 10-NQ/TW: Cơ hội rộng mở cho công nghiệp hỗ trợ
Cập nhật: 1 giờ trước
Việt Nam cần làm gì để giữ chân các tập đoàn công nghệ lớn?
Nghị quyết số 10-NQ/TW: Cơ hội rộng mở cho công nghiệp hỗ trợ
VOV.VN - Nghị quyết số 10-NQ/TW và Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, đang tạo cơ hội đưa hàng nghìn DN Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nghị quyết số 10-NQ/TW và Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) giai đoạn 2026-2035 yêu cầu, phát triển CNHT phải gắn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tự động hóa và phát triển bền vững; đồng thời lấy năng lực tham gia chuỗi cung ứng và tỷ lệ nội địa hóa làm thước đo hiệu quả của các chính sách hỗ trợ.
Đánh giá cao Nghị quyết số 10-NQ/TW và Chương trình phát triển CNHT đến năm 2035, ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA) cho rằng, đây là một văn kiện có ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, thể hiện rõ sự chuyển đổi tư duy từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên chất lượng, hiệu quả, công nghệ và khả năng lan tỏa đối với nền kinh tế.
Điều được các DN CNHT đặc biệt quan tâm, chính là Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ nói đến việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia, hay các dự án quy mô lớn, còn đặt ra những mục tiêu cụ thể liên quan đến sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Đơn cử Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 DN trong nước tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI, trong đó có từ 500 - 1.000 DN trở thành nhà cung ứng cấp 1; đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa lên khoảng 45-50%. Đây là những chỉ tiêu rất cụ thể, cho thấy vai trò của DN nội địa không còn đứng ngoài quá trình thu hút FDI, các DN trở thành một phần trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia”, ông Vân khẳng định.
Cũng theo ông Vân, đối với cộng đồng DN CNHT, Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự là một “cánh cửa vàng”. Trong nhiều năm qua, phần lớn DN CNHT Việt Nam mới chỉ tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng thấp, hoặc cung cấp những sản phẩm, dịch vụ đơn giản cho các doanh nghiệp FDI.
“Nếu các mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW được triển khai hiệu quả, các DN trong nước sẽ có cơ hội từng bước nâng cao năng lực sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và từng bước làm chủ công nghệ. Đây chính là những yếu tố giúp doanh nghiệp CNHT Việt Nam không chỉ gia tăng sản lượng mà còn nâng cao chất lượng tăng trưởng trong dài hạn”, ông Vân tin tưởng.
Nghị quyết số 10-NQ/TW được xem là bước thay đổi lớn trong tư duy phát triển công nghiệp. Nếu trước đây trọng tâm là thu hút thêm các nhà máy nước ngoài vào Việt Nam, nay mục tiêu quan trọng hơn là giúp DN trong nước lớn lên cùng các nhà máy đó. Tuy nhiên, từ cơ hội đến hiện thực vẫn còn một khoảng cách khá lớn. Những yêu cầu ngày càng khắt khe từ các tập đoàn đa quốc gia đang buộc DN CNHT phải thay đổi cách tiếp cận.
Bà Phạm Như Ý, Giám đốc điều hành Vtech Corporation đánh giá, nếu trước đây lợi thế cạnh tranh chủ yếu của các DN trong nước nằm ở chi phí sản xuất, thì hiện nay yếu tố quyết định lại là công nghệ, quản trị, chuyển đổi số, khả năng truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
“Khách hàng FDI hiện không chỉ đánh giá chất lượng sản phẩm, họ còn đánh giá toàn bộ quy trình vận hành của DN. Vì vậy, DN cần số hóa hoạt động quản lý nguyên vật liệu đầu vào, trong đó toàn bộ vật tư được mã hóa và kiểm soát xuyên suốt, nhằm bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc. DN cũng ưu tiên lựa chọn các nhà cung cấp nguyên liệu có công nghệ tiên tiến và uy tín quốc tế để bảo đảm chất lượng đầu vào cho sản xuất”, bà Như Ý khuyến nghị.
Cần xây dựng cơ chế kết nối thường xuyên giữa cơ quan quản lý và cộng đồng DN, để các chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả là quan điểm của ông Vương Đình Thanh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại Hà Nội (IDC Hà Nội). “Trọng tâm của CNHT trong giai đoạn tới không chỉ là quảng bá sản phẩm hay mở rộng thị trường, còn là hỗ trợ DN đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm, nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi cung ứng quốc tế”.
Để tận dụng được cơ hội từ Nghị quyết số 10-NQ/TW, Phó Chủ tịch HANSIBA Nguyễn Vân cho rằng, vấn đề không chỉ là cơ hội từ dòng vốn FDI chất lượng cao, điều cần hơn là những chính sách hỗ trợ cụ thể và một “bệ phóng” đủ mạnh từ Nhà nước, để DN CNHT có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Thực tế Chính phủ cùng các Bộ, ngành đã và đang triển khai nhiều chương trình phát triển CNHT. Tuy nhiên, DN vẫn mong muốn có thêm các cơ chế thiết thực hơn để thúc đẩy kết nối giữa DN trong nước với các tập đoàn FDI. Trong đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về DN CNHT, thiết lập các nền tảng kết nối cung - cầu, phát triển các cụm liên kết ngành và hệ sinh thái sản xuất chuyên sâu sẽ có ý nghĩa rất quan trọng”, ông Vân bày tỏ, đồng thờiđề cập việccác DN CNHT mong muốn có thêm các chương trình hỗ trợ về tài chính, đào tạo nhân lực chất lượng cao, tư vấn và cấp chứng chỉ tiêu chuẩn quốc tế, cũng như các giải pháp nâng cao năng lực quản trị DN…
Trước các cơ hội lớn từ Nghị quyết số 10-NQ/TW, các DN CNHT Việt Nam cần được tạo điều kiện để đủ sức trở thành đối tác bình đẳng với các DN FDI, thay vì chỉ chờ để được họ “kéo vào chuỗi”. Muốn vậy, các DN trong nước phải được hỗ trợ để nâng cao năng lực nội tại, cũng như các chính sách cần hướng tới việc thúc đẩy liên kết thực chất giữa hai khu vực DN.
Từ khóa: công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hỗ trợ,Nghị quyết số 10,mục tiêu phát triển, thu hút fdi, hàm lượng công nghệ, phát triển bình đẳng, nội lực doanh nghiệp, chuỗi cung ứng, chuyển giao công nghệ
Thể loại: Kinh tế
Tác giả: nguyễn quỳnh/vov.vn
Nguồn tin: VOVVN