Nghị quyết 57: Động lực mới cho phát triển quốc gia
Cập nhật: 14 giờ trước
"Quan hệ Việt - Trung vượt ra ngoài phạm trù song phương"
Lãnh đạo Văn phòng T.Ư Đảng tri ân các gia đình liệt sĩ, thương binh tại Quảng Trị
VOV.VN - Sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) quốc gia, có thể khẳng định đây là một quyết sách mở đường cho đổi mới mô hình phát triển đất nước.
KHCN, ĐMST và CĐS không còn là câu chuyện riêng của một ngành, một lĩnh vực, mà từng bước trở thành động lực xuyên suốt trong quản trị quốc gia, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng - an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế.
Điểm nổi bật nhất sau 18 tháng là sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy phát triển. Nếu trước đây KHCN, ĐMST và CĐS nhiều khi được xem như công cụ hỗ trợ, thì nay đã được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh. Từ nhận thức đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là ban hành chính sách, xây dựng nền tảng hay triển khai nhiệm vụ, mà phải tạo ra năng lực mới, sản phẩm mới và giá trị cụ thể cho đất nước.
Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết 57 được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội tới 3.662 điểm cầu tại các bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị với tổng số trên 568.380 đại biểu tham dự. Quy mô đó cho thấy sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, đồng thời khẳng định tính chất đặc biệt quan trọng của Nghị quyết trong giai đoạn phát triển mới. Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc thực hiện Nghị quyết 57 phải quyết tâm hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, không được chậm trễ; nhưng quan trọng hơn là phải thực chất và hiệu quả hơn nữa. Đây là điểm nhấn có ý nghĩa định hướng rất lớn: sau giai đoạn khởi động, thước đo của Nghị quyết không thể chỉ là số văn bản đã ban hành, số nhiệm vụ đã đăng ký hay số hệ thống đã triển khai, mà phải là sản phẩm cụ thể, giá trị thực tế và mức độ thay đổi cảm nhận được trong quản trị, sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.
Thông điệp đó chuyển trọng tâm thực hiện Nghị quyết từ “làm cho có tiến độ” sang “làm để tạo năng lực quốc gia”. Mỗi cấp, mỗi ngành cần trả lời bằng kết quả: đã làm chủ được công nghệ nào, kết nối được dữ liệu nào, cắt giảm được thủ tục nào, tiết kiệm được bao nhiêu chi phí xã hội, tạo thêm năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nào cho nền kinh tế. Đây cũng là yêu cầu hình thành văn hóa thực thi mới: tôn trọng dữ liệu, coi trọng hiệu quả cuối cùng và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đặt ra trách nhiệm rất rõ đối với người đứng đầu. KHCN, ĐMST và CĐS không còn là phần việc riêng của một cơ quan chuyên môn mà là nhiệm vụ chính trị trung tâm, được đo bằng dữ liệu, sản phẩm và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Nơi nào làm tốt phải được nhân rộng; nơi nào hình thức, chậm trễ, né tránh phải được nhắc nhở, kiểm điểm; những người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung cần được khuyến khích và bảo vệ.
Một trong những kết quả rõ nét nhất sau 1 năm 6 tháng là công tác thể chế hóa được triển khai khẩn trương, quyết liệt. Theo báo cáo trong tài liệu sơ kết, sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, Chính phủ đã chỉ đạo mạnh mẽ việc hoàn thiện thể chế, chính sách; các cấp có thẩm quyền đã ban hành 6 luật, 5 nghị định, 3 nghị quyết, 3 quyết định và nhiều văn bản nhằm khơi thông nguồn lực, tạo nền tảng triển khai. Đây là bước chuyển quan trọng, bởi trong lĩnh vực KHCN và ĐMST, thể chế không chỉ là công cụ quản lý, mà còn phải trở thành lợi thế cạnh tranh.
Cùng với đó, việc xây dựng các nền tảng số dùng chung Quốc gia tiếp tục được đẩy mạnh. Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 về tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung Quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị đặt ra yêu cầu các nền tảng số dùng chung phải được duy trì, vận hành, nâng cấp thường xuyên, đồng thời hạn chế tình trạng đầu tư trùng lặp các hệ thống, phần mềm có chức năng tương tự. Đây là cơ sở quan trọng để thúc đẩy Chính phủ số, chính quyền số và quản trị công dựa trên dữ liệu.
Trong cải cách hành chính, Đề án 06 tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư đã có 107 triệu dữ liệu công dân, kết nối với 15 bộ, ngành và 34 địa phương, tiếp nhận 2,1 tỷ lượt yêu cầu xác thực. Ứng dụng VNeID có 67 triệu tài khoản định danh điện tử, tích hợp 50 tiện ích. Cổng Dịch vụ công Quốc gia tích hợp 4.700 thủ tục, tiếp nhận 11,5 triệu hồ sơ trực tuyến trong năm 2025, góp phần tiết kiệm hơn 4.000 tỷ đồng chi phí xã hội. Những con số này cho thấy CĐS đang trực tiếp làm thay đổi phương thức phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Kinh tế số và năng lực tự chủ công nghệ có bước phát triển mới
Trong lĩnh vực kinh tế, Nghị quyết 57 đã tạo thêm động lực cho kinh tế số, công nghiệp công nghệ số và doanh nghiệp KHCN phát triển. Lũy kế đến hết tháng 5/2026, cả nước có 963 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 20 sàn giao dịch khoa học và công nghệ, 37 trung tâm ĐMST tại 26/34 tỉnh, thành phố. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trong tháng đạt 50,2%. Đặc biệt, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2025 ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD.
Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu chuyển từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ lõi. Trong lĩnh vực AI camera, các doanh nghiệp như MK, Hanet, BKAV, CMC, VNPT làm chủ khoảng 65% công nghệ lõi, với tỷ lệ nội địa hóa trên 50%. Viettel làm chủ khoảng 85% công nghệ lõi mạng 5G và phát triển các sản phẩm Quốc phòng công nghệ cao. Nhóm doanh nghiệp phát triển UAV như Realtime Robotics, Viettel, CT Group làm chủ trên 70% công nghệ lõi, đã đầu tư tổ hợp nhà máy sản xuất tại Việt Nam và bước đầu xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Đây là những tín hiệu tích cực cho thấy năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam đang từng bước hình thành, nhất là trong các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và gắn trực tiếp với an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, an ninh Quốc phòng.
Hạ tầng số cũng phát triển nhanh. Báo cáo tại phiên họp của Ban Chỉ đạo Chính phủ về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS và Đề án 06 cho thấy tỷ lệ phủ sóng mạng 5G theo dân số đạt 91,9%, với trên 22,4 triệu thuê bao; nhiều trung tâm dữ liệu lớn được khởi công, khánh thành; hơn 4,2 nghìn bộ xử lý GPU được đầu tư phục vụ trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó, Việt Nam đã xác định danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược gồm 11 nhóm công nghệ với 35 nhóm sản phẩm, bao gồm trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, lượng tử, dữ liệu lớn, blockchain, 5G/6G, robot và tự động hóa, chip bán dẫn, Y- Sinh học tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, đất hiếm, an ninh mạng, Hàng không - Vũ trụ.
Trong bức tranh chung đó, vai trò của các đại học nghiên cứu, đặc biệt là các đại học kỹ thuật - công nghệ đầu ngành, cần được nhìn nhận như một trụ cột chiến lược. Nếu Nhà nước là chủ thể kiến tạo thể chế, doanh nghiệp là lực lượng đưa công nghệ ra thị trường, thì trường đại học là nơi hình thành tri thức mới, đào tạo nhân lực chất lượng cao, tạo ra công nghệ nguồn và nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu có khả năng phát triển thành doanh nghiệp công nghệ. Với vị thế là đại học đầu ngành về công nghệ ở Việt Nam, ĐHBK Hà Nội có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa Nghị quyết 57.
Từ yêu cầu “thực chất, hiệu quả, đo được bằng sản phẩm”, vai trò của ĐHBK Hà Nội càng trở nên nổi bật. Muốn Nghị quyết 57 đi vào chiều sâu, Việt Nam không thể chỉ dừng ở nhập khẩu thiết bị, mua phần mềm hoặc ứng dụng công nghệ có sẵn, mà phải hình thành năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ ngay trong nước. ĐHBK Hà Nội là một trong những địa chỉ có năng lực đảm nhiệm vai trò này, nhất là ở các lĩnh vực công nghệ chiến lược như vật liệu, bán dẫn, AI, robot, tự động hóa, năng lượng mới, Hàng không - Vũ trụ và an ninh mạng.
Tại Hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết 57, Giám đốc ĐHBK Hà Nội, GS.TS. Lê Anh Tuấn, đã trình bày tham luận và đề xuất 5 kiến nghị chiến lược nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc phát triển hệ sinh thái ĐMST. Các kiến nghị bao gồm: đầu tư cho công nghiệp vật liệu; đơn giản hóa quy trình, thủ tục để rút ngắn thời gian thực hiện các nhiệm vụ, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ; sớm ban hành cơ chế thử nghiệm vượt trội, tức sandboxvà chính sách mua sắm công ưu tiên các sản phẩm ĐMST từ nghiên cứu trong nước; tăng tốc vận hành thực chất quỹ đầu tư mạo hiểm Quốc gia và thành lập quỹ ĐMST tại các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu; đồng thời xây dựng chương trình Quốc gia để ươm tạo, phát triển các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ, tức spin-off và spin-out, xuất phát từ trường đại học và viện nghiên cứu.
Những kiến nghị này không chỉ phản ánh nhu cầu riêng của một cơ sở đào tạo, mà chạm đúng vào các “nút thắt” mang tính hệ thống của KHCN Việt Nam hiện nay. Trước hết là kiến nghị đầu tư cho công nghiệp vật liệu. Đây là một đề xuất có tầm nhìn dài hạn, bởi vật liệu là nền tảng của nhiều ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn, điện tử, cơ khí chính xác, năng lượng mới, pin, Hàng không - Vũ trụ, thiết bị y sinh, robot, ô tô điện, hạ tầng số và Quốc phòng công nghệ cao. Khi Việt Nam đã xác định các nhóm công nghệ chiến lược như chip bán dẫn, robot và tự động hóa, Y - Sinh học tiên tiến, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng, Hàng không - Vũ trụ, thì việc đầu tư cho công nghiệp vật liệu không còn là câu chuyện riêng của một ngành, mà là điều kiện nền tảng để nâng cao năng lực tự chủ công nghệ Quốc gia.
Đề xuất của ĐHBK Hà Nội về xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại, đầu tư cơ sở vật chất, có cơ chế đãi ngộ và học bổng thu hút nhân tài cho ngành công nghiệp vật liệu cần được xem như một hướng ưu tiên chiến lược. Một phòng thí nghiệm vật liệu hiện đại không chỉ phục vụ công bố khoa học, mà phải giải quyết được các bài toán cụ thể của doanh nghiệp và nền kinh tế: vật liệu mới cho pin và lưu trữ năng lượng; vật liệu bán dẫn; vật liệu chịu nhiệt, chịu mài mòn cho cơ khí chính xác; vật liệu nhẹ cho giao thông xanh; vật liệu sinh học cho y tế; vật liệu phục vụ Quốc phòng, an ninh. Nếu được đầu tư đúng mức, ĐHBK Hà Nội có thể trở thành một đầu mối quan trọng trong nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định, chuyển giao và đào tạo nhân lực cho công nghiệp vật liệu - một ngành nền tảng nhưng lâu nay chưa được đầu tư tương xứng.
Kiến nghị thứ hai của ĐHBK Hà Nội là rút ngắn thời gian thực hiện các nhiệm vụ, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ. Đây là vấn đề rất thực tế. Trong khoa học công nghệ hiện đại, thời gian chính là năng lực cạnh tranh. Một ý tưởng nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, robot, vật liệu mới hay công nghệ sinh học nếu phải mất quá nhiều thời gian cho thủ tục phê duyệt, điều chỉnh, nghiệm thu, thanh quyết toán thì rất dễ lỡ nhịp công nghệ và lỡ cơ hội thị trường. Nhiều lĩnh vực có vòng đời công nghệ ngắn; nếu quy trình hành chính chậm hơn tốc độ thay đổi của công nghệ, kết quả nghiên cứu có nguy cơ trở nên lỗi thời ngay khi vừa hoàn thành.
Thực tiễn 18 tháng triển khai Nghị quyết 57 cho thấy năng lực công nghệ trong nước đang chuyển động nhanh, từ AI camera, 5G đến UAV và các sản phẩm Quốc phòng công nghệ cao. Những ví dụ này chứng minh thị trường, doanh nghiệp và công nghệ đang đi với tốc độ rất lớn. Nếu trường đại học, viện nghiên cứu vẫn bị ràng buộc bởi cơ chế tài chính cứng nhắc, thủ tục chậm, quy trình nghiệm thu nặng về hồ sơ hơn sản phẩm, thì hệ sinh thái ĐMST sẽ khó tạo ra công nghệ có khả năng cạnh tranh.
Kiến nghị thứ ba là sớm ban hành cơ chế sandbox và chính sách mua sắm công ưu tiên sản phẩm ĐMST từ nghiên cứu trong nước. Đây là đề xuất đặc biệt quan trọng. Sandbox cho phép sản phẩm, dịch vụ, mô hình công nghệ mới được thử nghiệm trong phạm vi có kiểm soát, qua đó Nhà nước vừa quản lý được rủi ro, vừa không bóp nghẹt sáng tạo. Cơ chế này rất cần thiết trong các lĩnh vực như AI, dữ liệu lớn, y tế số, giáo dục số, fintech, đô thị thông minh, giao thông thông minh, năng lượng thông minh, robot và thiết bị tự động. Tinh thần đó phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật của Nghị quyết 57: vừa bảo đảm quản lý, vừa khuyến khích ĐMST, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”.
Cùng với sandbox, chính sách mua sắm công ưu tiên sản phẩm ĐMST trong nước có thể tạo ra “khách hàng đầu tiên” cho các sản phẩm công nghệ Việt - đây là điểm then chốt. Nhiều sản phẩm từ trường đại học và viện nghiên cứu không thất bại vì thiếu ý tưởng, mà vì thiếu thị trường thử nghiệm, thiếu đơn vị đầu tiên dám sử dụng, thiếu cơ chế mua sắm phù hợp cho sản phẩm mới chưa có tiền lệ. Nếu Nhà nước có cơ chế đặt hàng, thử nghiệm, đánh giá và mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ trong nước, các nhóm nghiên cứu của ĐHBK Hà Nội và các cơ sở tương tự sẽ có cơ hội đưa sản phẩm ra thực tiễn nhanh hơn, thay vì chỉ dừng lại ở đề tài nghiệm thu.
Kiến nghị thứ tư là tăng tốc vận hành thực chất quỹ đầu tư mạo hiểm Quốc gia và thành lập quỹ ĐMST tại các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu. Trong ĐMST, giai đoạn khó nhất thường không phải là lúc có ý tưởng ban đầu, mà là giai đoạn chứng minh công nghệ, chế tạo mẫu thử, thử nghiệm thực địa, hoàn thiện sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tìm khách hàng đầu tiên và gọi vốn mở rộng. Giai đoạn này có rủi ro cao, ngân hàng thương mại khó cho vay, trong khi ngân sách khoa học truyền thống lại chưa phù hợp với logic đầu tư mạo hiểm. Vì vậy, nếu không có quỹ đầu tư mạo hiểm Quốc gia và các quỹ ĐMST ở trường đại học, viện nghiên cứu, nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị sẽ mắc kẹt trong phòng thí nghiệm.
Nghị quyết 57 đặt mục tiêu rất tham vọng: kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển KHCN, ĐMST, CĐS Quốc gia; nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ĐMST đạt 12 người trên một vạn dân; số lượng công bố khoa học quốc tế, đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ sáng chế đều tăng mạnh. Muốn các mục tiêu này không chỉ nằm trên giấy, cần có cơ chế tài chính đủ linh hoạt để chấp nhận rủi ro, đầu tư theo danh mục, chia sẻ lợi ích với nhà khoa học, đồng thời thu hút vốn xã hội vào nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ.
Kiến nghị thứ năm là xây dựng chương trình Quốc gia để ươm tạo, phát triển các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ từ trường đại học và viện nghiên cứu. Đây chính là mắt xích còn yếu trong hệ sinh thái khoa học công nghệ Việt Nam. Ở nhiều Quốc gia phát triển, trường đại học không chỉ đào tạo kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ, mà còn là nơi sinh ra doanh nghiệp công nghệ. Các phòng thí nghiệm có thể phát triển thành công ty; nhóm nghiên cứu có thể trở thành startup công nghệ sâu; luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu, sáng chế có thể chuyển thành sản phẩm thương mại. Việt Nam muốn có doanh nghiệp công nghệ mạnh thì không thể chỉ trông chờ vào nhập khẩu mô hình kinh doanh số, mà phải hình thành các doanh nghiệp công nghệ dựa trên tri thức, sáng chế, thiết kế, thuật toán, vật liệu, thiết bị, phần mềm và dữ liệu do người Việt làm chủ.
Từ các kiến nghị của ĐHBK Hà Nội có thể rút ra một thông điệp lớn: muốn KHCN, ĐMST và CĐS trở thành đột phá phát triển Quốc gia, cần đặt đại học nghiên cứu vào trung tâm của chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo. Trường đại học không chỉ đào tạo theo chỉ tiêu, mà phải tham gia phát hiện bài toán, nghiên cứu giải pháp, phát triển công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm trong sandbox, kết nối doanh nghiệp, nhận đặt hàng từ Nhà nước và hình thành các doanh nghiệp spin-off, spin-out.
Ở chiều ngược lại, bản thân các trường đại học cũng cần chuyển mạnh theo mô hình “đại học đổi mới sáng tạo”: mỗi trường, viện, phòng thí nghiệm gắn với một số bài toán công nghệ chiến lược; mỗi nhóm nghiên cứu mạnh có lộ trình sản phẩm; mỗi kết quả nghiên cứu có chiến lược sở hữu trí tuệ và thương mại hóa; mỗi sinh viên kỹ thuật được tiếp cận sớm với nghiên cứu, dữ liệu, doanh nghiệp và khởi nghiệp. Nếu được trao cơ chế phù hợp và nguồn lực đủ mạnh, ĐHBK Hà Nội có thể trở thành một “bệ phóng” cho công nghệ Make in Vietnam, doanh nghiệp công nghệ sâu và đội ngũ nhân lực trình độ cao phục vụ kỷ nguyên số.
Điểm đáng mừng là Nghị quyết 57 không chỉ tạo chuyển động ở cấp chính sách vĩ mô, mà đã đi vào các bài toán thực tế của địa phương. Trong nông nghiệp, Cà Mau nhân rộng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tuần hoàn ít thay nước lên quy mô 1.500 ha; Vĩnh Long ứng dụng 62 máy bay không người lái, phân bón nano và công nghệ nuôi cấy phôi sạch bệnh; Đồng Tháp sử dụng nền tảng dữ liệu số giám sát sâu rầy thông minh, giúp giảm chi phí và tiết kiệm hơn 15,4 tỷ đồng mỗi năm trên diện tích lúa.
Tại Thanh Hóa, khoảng 88% trang trại chăn nuôi đã ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa hoặc bán tự động trong sản xuất; hàng trăm doanh nghiệp, hợp tác xã triển khai tem QR truy xuất nguồn gốc nông sản; nhiều vùng sản xuất ứng dụng tưới nhỏ giọt, tưới phun tự động kết hợp cảm biến độ ẩm. Trong quản lý tài nguyên, môi trường, địa phương đã lắp đặt gần 200 trạm đo mưa tự động, xây dựng nhiều bản đồ số hóa phục vụ cảnh báo ngập lụt, sạt lở, lũ quét; Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh tích hợp 16 phân hệ phục vụ chỉ đạo, điều hành.
Trong y tế, nền tảng Sổ sức khỏe điện tử được triển khai và tích hợp trên VNeID, quản lý gần 40 triệu sổ sức khỏe điện tử, tương đương 35,1% dân số. Tại Hà Nội, việc tra cứu thẻ bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chip được triển khai rộng rãi tại hầu hết cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Việt Đức đi đầu trong áp dụng bệnh án điện tử và triển khai Đề án 06. Trong văn hóa, du lịch, Ninh Bình phát triển hệ thống dữ liệu số và AI phục vụ quản lý, bảo tồn di sản; Tuyên Quang phát triển bản đồ số và hướng dẫn viên AI; Điện Biên ứng dụng hệ thống thuyết minh tự động tại khu di tích lịch sử.
Những ví dụ trên cho thấy Nghị quyết 57 đang đi vào những việc rất cụ thể: một hồ sơ hành chính được xử lý trực tuyến, một lượt khám bệnh giảm thủ tục giấy tờ, một hợp tác xã truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, một di sản được số hóa, một địa phương điều hành bằng dữ liệu. Đây cũng chính là không gian để các trường đại học công nghệ như ĐHBK Hà Nội tham gia sâu hơn: nghiên cứu giải pháp, đào tạo nhân lực, phát triển công nghệ, chuyển giao mô hình và đồng hành với địa phương trong giải quyết các bài toán thực tiễn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai Nghị quyết 57 vẫn còn không ít khó khăn cần được nhìn nhận thẳng thắn. Trước hết là khoảng cách giữa nhận thức và hành động ở một số nơi; nhiều công việc còn chậm so với kỳ vọng; cách hiểu về sản phẩm KHCN, ĐMST và CĐS chưa thống nhất. Cùng với đó là tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ; hạ tầng nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; việc sử dụng nguồn lực chưa thật sự hiệu quả.
Thể chế tuy đã chuyển động mạnh nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo đặc thù của khoa học công nghệ: rủi ro cao, vòng đời công nghệ nhanh, yêu cầu thử nghiệm lớn và khả năng thương mại hóa không thể đo bằng cách quản lý hành chính thông thường. Những đề xuất về sandbox, mua sắm công, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ ĐMST và chương trình spin-off, spin-out vì vậy không chỉ là kiến nghị riêng của ĐHBK Hà Nội, mà là lời giải cho điểm nghẽn chung của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Quốc gia.
Dữ liệu tiếp tục là điểm nghẽn lớn. Nhiều cơ sở dữ liệu đã được xây dựng nhưng chưa liên thông đầy đủ, chưa đồng bộ về chuẩn, chất lượng dữ liệu chưa cao, cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu còn vướng mắc. Nếu dữ liệu không đúng, đủ, sạch, sống và kết nối được, thì trí tuệ nhân tạo, dịch vụ công trực tuyến, đô thị thông minh hay kinh tế dữ liệu khó phát huy hiệu quả.
Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là rào cản dài hạn, nhất là trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, an ninh mạng, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, tự động hóa và robot. Đây là vấn đề không thể giải quyết bằng các chương trình ngắn hạn, mà cần chiến lược dài hạn về đào tạo, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài; trong đó các đại học công nghệ trọng điểm phải giữ vai trò nòng cốt.
Ở góc nhìn doanh nghiệp, đại diện Vingroup cũng đề xuất 6 nhóm đột phá chiến lược, tập trung vào phát triển trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn làm hạ tầng nền tảng cho công nghệ Quốc gia. Các đề xuất gồm xây dựng hạ tầng dữ liệu AI Quốc gia, phát triển AI nền tảng “Make in Vietnam”, đầu tư hạ tầng tính toán dùng chung, đổi mới thể chế và tạo sandbox, đào tạo nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm thông qua chương trình “Vietnam AI Global”. Những đề xuất này có nhiều điểm tương đồng với kiến nghị của ĐHBK Hà Nội, nhất là về sandbox, hạ tầng dùng chung, nhân lực chất lượng cao và thương mại hóa công nghệ.
Trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục triển khai Nghị quyết 57, mà phải triển khai nhanh hơn, thực chất hơn và đo lường được hơn. Tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có thể khái quát thành một chuyển đổi phương thức thực thi: từ chuẩn bị nền móng sang tạo ra sản phẩm; từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả; từ báo cáo đầu việc sang kiểm chứng bằng dữ liệu, giá trị thực tế và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Trên tinh thần đó, mỗi bộ, ngành, địa phương cần xác định rõ bài toán ưu tiên, đơn vị chịu trách nhiệm, nguồn lực triển khai, thời hạn hoàn thành và chỉ tiêu đo lường. Mỗi nhiệm vụ KHCN, ĐMST và CĐS phải gắn với một bài toán cụ thể, có đơn vị tiếp nhận, có thị trường ứng dụng, có chỉ tiêu kết quả và có trách nhiệm người đứng đầu. Những nơi triển khai hình thức, chậm trễ, né tránh cần được đánh giá nghiêm túc; những nơi dám làm, làm đúng, tạo kết quả cần được biểu dương và nhân rộng.
Với các đại học nghiên cứu, đặc biệt là ĐHBK Hà Nội, phương hướng thời gian tới cần được cụ thể hóa bằng các chương trình hành động rõ ràng: đầu tư có trọng tâm cho phòng thí nghiệm hiện đại trong các lĩnh vực chiến lược; trao quyền tự chủ mạnh hơn cho các nhóm nghiên cứu; cải cách thủ tục đặt hàng, nghiệm thu, thanh quyết toán theo hướng coi trọng sản phẩm và tác động; thí điểm sandbox cho sản phẩm công nghệ từ trường đại học; hình thành quỹ ĐMST trong trường đại học; kết nối với quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia; triển khai chương trình spin-off, spin-out để biến phòng thí nghiệm thành cái nôi của doanh nghiệp công nghệ.
Về dữ liệu, cần đẩy nhanh chuẩn hóa, làm sạch, kết nối và khai thác giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành và địa phương. Dữ liệu phải trở thành hạ tầng nền tảng cho trí tuệ nhân tạo, dịch vụ công trực tuyến, quản trị đô thị, y tế, giáo dục, nông nghiệp, logistics và thương mại. Việc xây dựng hạ tầng dữ liệu AI Quốc gia, các không gian chia sẻ dữ liệu tin cậy và hạ tầng tính toán dùng chung cần được nghiên cứu nghiêm túc để tránh phân tán nguồn lực, đồng thời giảm phụ thuộc vào nền tảng nước ngoài.
Về nhân lực, cần có chương trình dài hạn đào tạo nhân tài trong các ngành chiến lược như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, vật liệu mới, robot và tự động hóa. Đây không chỉ là chính sách giáo dục đại học, mà là chính sách phát triển năng lực cạnh tranh quốc gia. Các trường đại học, viện nghiên cứu phải được trao quyền tự chủ mạnh hơn để thu hút chuyên gia giỏi, phát triển quỹ ĐMST, hình thành doanh nghiệp công nghệ và kết nối sâu hơn với doanh nghiệp.
Sau 1 năm 6 tháng, Nghị quyết 57 đã tạo ra những chuyển động quan trọng: thể chế được khơi thông, hạ tầng số mở rộng, dữ liệu dần trở thành nền tảng quản trị, kinh tế số tăng trưởng, nhiều doanh nghiệp từng bước làm chủ công nghệ lõi, nhiều địa phương ứng dụng công nghệ vào các bài toán cụ thể của đời sống. Những kết quả ấy mới là bước đầu, nhưng có ý nghĩa đặt nền móng cho một phương thức phát triển mới: phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ của người Việt Nam.
Tuy nhiên, để Nghị quyết 57 thực sự trở thành động lực bứt phá, cần chuyển nhanh hơn từ quyết tâm sang kết quả, từ phong trào sang năng lực, từ nền tảng sang sản phẩm. Thành công của giai đoạn tới không chỉ đo bằng số văn bản ban hành hay số nhiệm vụ hoàn thành, mà phải đo bằng sản phẩm công nghệ cụ thể, doanh nghiệp công nghệ mạnh, dịch vụ công thuận tiện hơn, năng suất lao động cao hơn, năng lực tự chủ lớn hơn và chất lượng sống của người dân tốt hơn.
Trong tiến trình đó, ĐHBK Hà Nội cần được nhìn nhận không chỉ là một đơn vị tham gia, mà là một chủ thể quan trọng trong hiện thực hóa Nghị quyết 57. Đầu tư cho ĐHBK Hà Nội và các đại học nghiên cứu công nghệ trọng điểm không đơn thuần là đầu tư cho giáo dục đại học, mà là đầu tư cho năng lực cạnh tranh quốc gia, cho tự chủ công nghệ, cho công nghiệp nền tảng, cho đội ngũ Kỹ sư - Nhà khoa học - Doanh nhân công nghệ và cho tương lai phát triển nhanh, bền vững, thịnh vượng của đất nước.
Trong kỷ nguyên mới, Quốc gia nào làm chủ được công nghệ, dữ liệu và năng lực sáng tạo sẽ nắm được lợi thế phát triển. Với Nghị quyết 57, Việt Nam đã lựa chọn đúng con đường. Vấn đề còn lại là hành động quyết liệt, đồng bộ, có trọng tâm, có sản phẩm, có trách nhiệm và có kết quả đo lường được - đúng như tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm - để KHCN, ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và thịnh vượng.
Từ khóa: khoa học, công nghệ, VOV, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Bộ Chính trị, khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số Quốc gia, tư duy phát triển
Thể loại: Nội chính
Tác giả: ts vũ hải quang
Nguồn tin: VOVVN